CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CẤU TRÚC VỐN:  BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TỪ TRUNG QUỐC

CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CẤU TRÚC VỐN: BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TỪ TRUNG QUỐC

Khuyến mại Chính sách bảo hành

Thể loại: Tài chính ngân hàng

Cập nhật:

Kiểu file: docx

Người đăng:

Điểm download: 400

Lượt tải: 5

để ủng hộ website nếu bạn thấy tài liệu này có giá trị, xin cám ơn!
Click

Tài liệu này chỉ ra những nhân tố ảnh hưởng cấu trúc vốn trong các công ty đã niêm yết Trung Quốc và khảo sát bất kỳ công ty nào trong nền kinh tế phát triển lớn nhất và đang bước vào thời kỳ quá độ của thế giới xem xét những đặc điểm đặc biệt. Cụ thể chúng tôi mong muốn trả lời cho 2 câu hỏi sau:

1.       Liệu những quyết định đòn bẩy taì chính trong các công ty được thực hiện bởi các công ty niêm yết Trung Quốc có khác biệt với những công ty khác trong nền kinh tế nơi mà quyền sở hữu tư nhân đã phổ biến hơn và cơ chế thị trường đã được quy định trong nhiều năm qua?

2.       Các nhân tố ảnh hưởng những biến chéo (cross-sectional variability ) của cấu trúc vốn ở những quốc gia khác có tác động giống như các cấu trúc vốn ở Trung Quốc không? Các nhân tố được nhận biết bởi nghiên cứu lý thuyết và bởi các nghiên cứu thực nghiệm trước đây dựa trên dữ liệu thu thập từ các quốc gia khác bao gồm cả quốc gia phát triển và đang phát triển.

Môi trường tổ chức cho các công ty có 2 đặc điểm nổi bật: (1) Trung Quốc đang trong thời kỳ quá độ từ một nền kinh tế tập trung sang một nền kinh tế thị trường, và (2) hầu hết các công ty niêm yết trên thị trường là các tập đoàn nhà nước sở hữu (SOEs) trước đây và nhà nước vẫn duy trì quyền kiểm soát chúng sau khi các công ty này ra công chúng. Nó không khó để hiểu rằng Trung Quốc có cấu trúc thể chế khác biệt để phát triển cũng như nhiều nước đang phát triển. Ví dụ, trong thế giới của Modigliani và Miller, thuế nên không có ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của công ty trong nền kinh tế tập trung. Bởi vì tại Trung Quốc chính phủ hoặc nhà nước là chủ của các công ty và ngân hàng, cũng như người thụ hưởng thuế. Tương tự, hiểu biết rộng rãi về những SOE chưa niêm yết không phải là những công ty mang lợi nhuận tối đa; quy mô của chúng (đại diện cho chi phí phá sản), tài sản cố định (tài sản thế chấp) và thậm chí lợi nhuận có thể không có ảnh hưởng đến cơ cấu vốn của các công ty này. Ngoài ra, vì nhà nước chính là cổ đông đa số đáng kể đối với hầu hết các công ty niêm yết, nếu nó không thay đổi hoạt động của nó đối với các công ty, các công ty này ít có khả năng chịu ảnh hưởng từ khủng hoảng tài chính so với các công ty chịu sự kiểm soát cổ đông là cá nhân hoặc doanh nghiệp tư nhân, những cổ đông này hướng tới mức tối đa hóa tài sản của họ. Các tài sản thế chấp và thậm chí lợi nhuận có thể không có hiệu lực trên cơ cấu vốn của họ. Ngoài ra, vì nhà nước là cổ đông chi phối đối với hầu hết các công ty niêm yết, nếu nó không thay đổi hành vi của nó đối với các công ty, các công ty ít có khả năng chạy vào khủng hoảng tài chính so với các đối tác của họ có kiểm soát cổ đông là cá nhân hoặc viện tư nhân, trong đó có sự giàu có-tối đa hóa theo định hướng. Những đại diện cho chi phí cuộc khủng hoảng tài chính (quy mô và biến động) trong các công ty Trung Quốc được dự kiến ​​sẽ có ít hoặc không có tác dụng trên cơ cấu vốn. Theo kết quả mang lại, câu trả lời cho hai câu hỏi mà chúng tôi đã đưa ra, tạo nên một mức độ khổng lồ đáp ứng yêu cầu lợi nhuận cho các công ty này, liệu có thực sự là như vậy? Kể từ khi Modigliani và Miller công bố chuyên đề nghiên cứu của họ vào năm 1958, vấn đề cấu trúc vốn đã tạo ra sự quan tâm lớn giữa các nhà nghiên cứu tài chính (xem cuộc khảo sát xuất sắc của Harris và Raviv, năm 1991). Đối với các nghiên cứu lý thuyết, có hai mô hình cấu trúc vốn cạnh tranh nhau được thừa nhận rộng rãi đó là: mô hình cân bằng tĩnh (the static tradeoff  models)  và lý thuyết trật tự phân hạng (the pecking order hypothesis). 

Theo các mô hình tĩnh về đánh đổi, cấu trúc vốn tối ưu không tồn tại. Một công ty được coi là thiết lập một mức nợ mục tiêu và dần dần di chuyển tới nó. Cấu trúc vốn tối ưu của công ty sẽ liên quan  đến sự đánh đổi giữa những ảnh hưởng của công ty và thuế cá nhân, chi phí phá sản và các chi phí đại diện,… vv. Cả hai mô hình dựa trên thuế và chi phí đại diện thuộc về các mô hình tĩnh về đánh đổi, chẳng hạn như Modigliani và Miller (1958, 1963), Miller (1977), Kraus và Litzenberger (1973), Kim (1978), Bradley, Jarrel vàKim (1984), Jensen và Meckling (1976), Jensen (1986), Grossman và Hart (1982), Harris và Raviv (1990), Stulz (1990), Diamond (1989), và Chang (1999). Mặt khác, lý thuyết trật tự phân hạng , đề nghị lần đầu tiên bởi Myers và Majluf (1984), nói rằng không thể xác định rõ ràng một tỷ lệ nợ mục tiêu. Các công ty được cho là thích lợi nhuận giữ lại (có sẵn tài sản dễ dàng chuyển đổi ra tiền mặt – tài sản lưu động) như là nguồn vốn chính của họ từ đầu tư. Tiếp theo trong thứ tự ưa thích là nợ ít rủi ro  và cuối cùng đến rủi ro vốn  tài trợ bên ngoài. Trật tự như vậy là bởi vì sự tồn tại của vấn đề bất cân xứng thông tin giữa nhà đầu tư trong và ngoài. Tỷ lệ nợ thay đổi khi có sự mất cân bằng của dòng tiền nội bộ, cổ tức ròng, các cơ hội đầu tư thực trong khi các yếu tố được xem xét trong mô hình đánh đổi được coi là trật tự thứ hai. Nhiều nghiên cứu đã mở rộng ý tưởng cơ bản của Myers-Majluf , chẳng hạn như Krasker (1986), Brennan và Kraus (1987), Narayanan (1988), Noe (1988), Constantinides và Grundy (1989), và Heinkel và Zechner (1990).

Nó thì quan trọng để kiểm định các giả thuyết, sự đánh đổi hoặc trật tự phân hạng, là mạnh mẽ hơn trong việc giải thích hành vi tài chính của các công ty. Thật không may, không có kết luận cho các kiểm định này. Shyam Sunder và Myers (1999) cho rằng mô hình đánh đổi có thể bị từ chối và mô hình trật tự phân hạng có sức mạnh giải thích cho chuỗi thời gian hơn nhiều so với mô hình đánh đổi bằng cách kiểm định sức mạnh thống kê của các giả thiết đối. Tuy nhiên, Chirinko và Singha (2000) chỉ ra rằng các thử nghiệm được tiến hành bởi Shyam Sunder và Myers (1999) đưa ra các kết luận sai lệch và các bằng chứng thực nghiệm đó của họ không thể đánh giá được mô hình trật tự phân hạng cũng như các mô hình tĩnh về đánh đổi.  Fama và French (2002) tìm thấy các mô hình trật tự phân hạng và đánh đổi, mỗi một giải thích một số hành vi tài chính của các công ty, và không có cái nào có thể bị từ bỏ. Booth et al.(2001) chỉ ra rằng phân biệt bằng thực nghiệm giữa hai mô hình khác nhau này đã được chứng minh là khó khăn bởi vì các biến dùng để biểu diễn một mô hình này cũng có thể được phân loại như biến mô hình khác. Một phần bởi vì điều này, nhiều nghiên cứu thực nghiệm gần đây đã sử dụng kiểm định chéo và một đa dạng các biến mà các biến này có thể được điều chỉnh bằng cách sử dụng bất kỳ trong hai mô hình.

Phần lớn các nghiên cứu thực nghiệm về cấu trúc vốn, chẳng hạn như Bradley, Jarrell, và Kim (1984), Titman và Wessels (1988), Rajan và Zingales (1995), và Wald (1999), sử dụng dữ liệu từ các nước phát triển, chủ yếu là từ Mỹ để dẫn chứng các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn. Các nghiên cứu về thị trường mới nổi, chẳng hạn như Booth et al. (2001) và Wiwattanakantang (2001), chỉ xuất hiện trong những năm gần đây.

Bài viết này sử dụng một cơ sở dữ liệu mới, trong đó có dữ liệu thị trường và dữ liệu kế toán cho hơn 1000 công ty niêm yết Trung Quốc đến năm 2000. Những cơ sở dữ liệu mới là thị trường chứng khoán Trung Quốc và cơ sở dữ liệu nghiên cứu Kế toán (CSMAR), phát triển và duy trì sự phối hợp của Trung Quốc và Trung tâm Nghiên cứu Tài chính Kế toán tại Đại học Bách khoa Hồng Kông và Công ty TNHH Công nghệ thông tin Thâm Quyến GTA. Một số dữ liệu như cấu trúc sở hữu và cổ phần quản trị  từ cơ sở dữ liệu của Đài Loan Tej Trung Quốc đại lục. Trong nghiên cứu này, một số đặc điểm cấu trúc vốn của các công ty niêm yết Trung Quốc được dẫn chứng.

Đầu tiên, mối tương quan giữa các đặc điểm và tác dụng đòn bẩy trong  các công ty niêm yết do nhà nước kiểm soát là tương tự như những gì đã được tìm thấy ở các nước khác. Phát hiện này cho thấy rằng các công ty này đã trở thành những công ty tối đa hóa lợi nhuận và các lực lượng kinh tế cơ bản thì cũng đang làm việc trong các công ty niêm yết Trung Quốc. Điều đó ngụ ý rằng đó là tốt để liệt kê các doanh nghiệp nhà nước (SOEs) mặc dù nhà nước không từ bỏ quyền kiểm soát của các công ty này, đó là phù hợp với những phát hiện của Huang và Song (2002).

Thứ hai, so với những công ty trong các nền kinh tế khác, các công ty niêm yết Trung Quốc có đòn bẩy thấp hơn nhiều. Một trong những lý do có thể là thị trường trái phiếu ở Trung Quốc là rất nhỏ và kém phát triển. Ngoài ra, tỷ suất Q của Tobin khá cao làm cho việc phát hành trái phiếu và thậm chí các khoản vay ngân hàng không hấp dẫn cho các công ty niêm yết Trung Quốc. Vì vậy, thúc đẩy sự phát triển của thị trường trái phiếu để mở rộng các kênh tài chính của các công ty niêm yết có thể là cần thiết.

Phần còn lại của bài nghiên cứu được tổ chức như sau. Mục 1 thảo luận ngắn gọn các đại diện cho những nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn. Mục 2 trình bày các số liệu thống kê mô tả của đòn bẩy và các đại diện những nhân tố ảnh hưởng . Mục 3 thảo luận về kết quả thực nghiệm, tiếp theo sau là kiểm tra tính chắc chắn trong mục 4. Mục 5 kết luận bài nghiên cứu.

Ghi chú: Tài liệu này được thành viên vhquyen08 đăng lên thư viện. Theo quy định điều khoản sử dụng, Thuvien24.com không chịu bất kỳ trách nhiệm nào đối với bản quyền tài liệu. Bạn tự cân nhắc trước khi tải tài liệu.
Xem bình luận
vietnham2013
Mong rằng website càng ngày tài liệu sẽ càng nhiều.
Hy vọng các bạn sẽ đóng góp thêm để website của chúng ta ngày càng phong phú đầy đủ
muasaobang
BQT co gang up them nhieu nhieu tai lieu hay nua nhe! Cam on
vuvanbach
Tôi đã nhận được file, Rất cảm ơn dịch vụ thuvien24.com
nguyenthuyan
​​Em xin cảm ơn cộng đồng này và những người đã nghĩ ra ý tưởng này :)
  • Tài liệu mới
  • Tài liệu nổi bật
  • Tài liệu liên quan
  • Tài liệu cùng người đăng
Cấu hình wireless xác thực với radius server

Cấu hình wireless xác thực với radius server

Lượt down: 0

Người đăng: puti1996

BẢNG THỐNG KÊ CÁC XÃ Ở VIỆT NAM

BẢNG THỐNG KÊ CÁC XÃ Ở VIỆT NAM

Lượt down: 0

Người đăng: bosocthoi2010

Phương Pháp Marketing 4p Cty HABECO

Phương Pháp Marketing 4p Cty HABECO

Lượt down: 0

Người đăng: dungyenpro

Giáo trình cây cà phê và hồ tiêu

Giáo trình cây cà phê và hồ tiêu

Lượt down: 1

Người đăng: hvvang

Kỹ Năng Soạn Thảo Văn Bản

Kỹ Năng Soạn Thảo Văn Bản

Lượt down: 0

Người đăng: ngoclan_vp

Các khuyết tật thị trường

Các khuyết tật thị trường

Lượt down: 0

Người đăng: hocvienbho

20 Điều giáo viên nên biết

20 Điều giáo viên nên biết

Lượt down: 17

Người đăng: nndu79

GIÁO TRÌNH TRIẾT HỌC CHO HỌC VIÊN CAO HỌC

GIÁO TRÌNH TRIẾT HỌC CHO HỌC VIÊN CAO HỌC

Lượt down: 0

Người đăng: kakabinhminh