Khóa Luận Cái tôi ngông trong thơ Tản Đà

Khóa Luận Cái tôi ngông trong thơ Tản Đà

Khuyến mại Chính sách bảo hành

Thể loại: Khoa học, xã hội

Cập nhật:

Kiểu file: rar

Người đăng:

Điểm download: 200

Lượt tải: 8

để ủng hộ website nếu bạn thấy tài liệu này có giá trị, xin cám ơn!
Click
Chính sách đảm bảo Tài liệu này của thành viên thuvien24 và được Thuvien24.com đảm bảo. Xem chi tiết

 

 

Mở đầu.
1. Lý do chọn đề tài:
1.1. Nhắc tới nền văn học Việt Nam thì chúng ta không thể không nhắc tới Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu. Bởi Tản Đà là một phong cách lớn, giữ một vị trí quan trọng trong lịch sử văn học dân tộc. Ông là con người của buổi giao thời - cái buổi mà nền văn học mới chưa được định hình rõ mà văn học cũ thì đ• đi vào bế tắc, hết vai trò lịch sử. Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu chính là dấu nối giữa hai nền văn học trung đại và hiện đại. Tên tuổi của ông gắn liền với thời kì văn học mang tính chất giao thời ấy. Tản Đà có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình vận động và phát triển của văn học, đặc biệt là lĩnh vực thơ ca. Ông chính là một hiện tượng hấp dẫn, mới mẻ đối với giới phê bình nghiên cứu. Nhưng bản thân con người cũng như sáng tác của Tản Đà vốn rất phức tạp dẫn đến nhiều hướng tiếp cận, nhiều cách đánh giá khác nhau. Và ở ông vẫn còn nhiều vấn đề chưa được đề cập tới. Chính vì vậy, việc tìm hiểu, nghiên cứu về hiện tượng văn học này cần phải được tiếp tục để đảm bảo một cái nhìn đúng đắn, thống nhất.
1.2. Cái Tôi tác giả là một phạm trù rất quan trọng trong sáng tác văn học viết. Đây là yếu tố cơ bản trong hệ thống các yếu tố hình thành nên phong cách của một tác giả.
Cái Tôi trong sáng tác của Tản Đà quả thực là một hiện tượng rất độc đáo trong văn học Việt Nam. Đi sâu tìm hiểu vấn đề này, chúng tôi hy vọng nhằm đi đến xác định một phương diện quan trọng trong phong cách của tác giả, tìm ra được dấu ấn riêng đặc sắc mà nhà thơ đ• để lại trong lịch sử văn học dân tộc.
1.3. Từ thập niên bốn mươi của thế kỷ XX, thơ Tản Đà đ• được đưa vào giảng dạy trong nhà trường phổ thông và đại học. Hiện nay, ở Trung học phổ thông, thơ Tản Đà được chọn giảng bài Thề non nước. Đây là một trong những bài thơ hay nhất của ông và cho đến nay vẫn có nhiều ý kiến tranh c•i, không thống nhất. Như vâỵ, chúng ta thấy rằng Tản Đà là một tác giả có vị trí đặc biệt không chỉ trong lịch sử văn học dân tộc mà cả trong các chương trình giảng dạy văn học ở học đường. Vì thế, việc tìm hiểu, nghiên cứu vấn đề này, hy vọng sẽ có đóng góp ít nhiều vào công tác giảng dạy, học tập về Tản Đà ở nhà trường phổ thông.
2. Đối tượng  nghiên cứu và phạm vi, giới hạn của đề tài.
2.1. Đối tượng nghiên cứu:
Như tên đề tài đ• xác định, đối tượng nghiên cứu mà đề tài hướng tới ở đây là: Cái tôi ngông trong thơ Tản Đà.
2.2. Phạm vi, giới hạn của đề tài:
Sau gần ba mươi năm sáng tác, Tản Đà đ• để lại cho đời một khối lượng tác phẩm khá lớn với nhiều thể loại khác nhau: thơ, văn xuôi, kịch ... Tuy nhiên, khi nhắc đến Tản Đà, chúng ta nhớ đến ông nhiều nhất với tư cách là một nhà thơ. ở lĩnh vực này, Tản Đà đ• có những đóng góp nhất định. Bởi vậy,luận văn chủ yếu khảo sát, tìm hiểu những biểu hiện và đặc điểm của cái Tôi “ngông” trong thơ Tản Đà. Trong quá trình nghiên cứu, tiếp cận với cái Tôi “ngông” trong thơ Tản Đà, luận văn có thể so sánh nó với toàn bộ cái Tôi trong sáng tác văn xuôi của ông để làm nổi bật hơn cái Tôi ngông trong thơ.
Tài liệu mà luận văn khảo sát là các sáng tác thơ của Tản Đà. Chúng tôi dựa vào cuốn Tản Đà - Thơ và đời do Nguyễn Khắc Xương sưu tầm và biên soạn (N.x.b. Văn học - Hà Nội), kết hợp với các yếu tố thuộc về thời đại, về hoàn cảnh riêng, về con người của tác giả để tìm hiểu, nghiên cứu.
3. Lịch sử vấn đề nghiên cứu.
3.1. Tản Đà là một hiện tượng văn học lớn trong văn học Việt Nam. Lịch trình nghiên cứu về Tản Đà đ• có khoảng tám mươi năm và cho đến nay đ• có hơn một trăm bài viết nghiên cứu về ông. Nhiều vấn đề đ• được các tác giả đề cập đến. Nhưng nhìn chung, việc đánh giá, nhìn nhận về Tản Đà còn có nhiều ý kiến trái ngược nhau và đến tận bây giờ vẫn chưa được thống nhất.
Lịch sử nghiên cứu về Tản Đà có thể chia làm ba thời kỳ:
3.1.1. Thời kỳ trước cách mạng tháng Tám:
Tản Đà xuất hiện lần đầu tiên trên văn đàn vào năm 1916 với quyển Khối tình con 1 và gây được những dư luận, ảnh hưởng mạnh mẽ. Khi Nam Phong tạp chí ra đời, Tản Đà cũng đ• có mặt ngay từ những số đầu. Trên tờ tạp chí này, Phạm Quỳnh đ• công nhận và ca ngợi kịp thời những ảnh hưởng tích cực của Tản Đà đối với nền văn học dân tộc: “có giọng mới, có ý lạ, được quốc dân nhiều người cổ võ” [29,165]. Cũng chính Phạm Quỳnh trên tờ tạp chí ấy đ• đả kích Giấc mộng con của Tản Đà.Ông cho rằng với Giấc mộng con 1, Tản Đà đ• “ khinh mạn quốc dân đến nỗi đem chính danh thân thế mà bắt quốc dân truyền tụng” [29,165], đem cái “ngông” mà phô diễn ... Với cái Tôi ngông nghênh xuất hiện trên văn đàn trong Giấc mộng con 1, Tản Đà đ• bị Phạm Quỳnh phê phán một cách nặng nề rằng: không những là không có ích mà còn có hại, là đánh thuốc độc cho cả nước, là phạm tội diệt vong... Bên cạnh đó, Phạm Quỳnh lại tỏ ý ca ngợi những cuốn như Đài kinh, Lên sáu vì đ• phổ thông luân lý cho đàn bà con gái, vì đ• chuyên chú về đường giáo dục. Giống như Phạm Quỳnh, một số nhà nghiên cứu khác, họ bất bình với cái Tôi của nhà thơ  bộc lộ một cách ngang nhiên như vậy và họ đ• đồng tình với những Đài kinh, Lên sáu. Vì theo họ, văn phải là “vỏ bọc của tư tưởng” (Tạp chí Nam Phong - số 17).
Như vậy, từ đầu thế kỷ cho đến trước 1932 - khi thơ Mới chưa xuất hiện, người phê bình, đánh giá về Tản Đà không nhiều nhưng thực tế thì từ đây, Tản Đà đ• bắt đầu trở thành một hiện tượng trên văn đàn. Ông đ• tạo nên “một sự ảnh hưởng trong văn giới” và sự say mê trong thế hệ học sinh Tây học.
Khi thơ Mới xuất hiện và khẳng định được vị trí của mình thì Tản Đà bị đưa ra làm đối tượng phê phán. Sự thắng thế của thơ Mới đ• thu hút được sự quan tâm của công chúng, Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu trở nên lu mờ và cổ lỗ, chỉ sống trong “kỷ niệm” của độc giả.
Năm 1934, Tản Đà tranh luận về thơ cũ và thơ Mới với các nhà thơ trẻ. Ông bị báo Ngày nay và nhóm Tự lực văn đoàn đưa ra làm trò. Cũng để bảo vệ thơ Mới, nhà thơ trẻ Lưu Trọng Lư đ• có những lời lẽ “xấc xược” và thiếu tôn trọng đối với Tản Đà: “Nàng thơ ấm Hiếu mũi thò lò”.
Nhìn chung, ở thời kỳ này, Tản Đà không được đánh giá một cách đúng mức.
Nhưng đến năm 1939, sau khi Tản Đà mất, mọi người mới nhìn nhận lại và giá trị văn học, cũng như vai trò của Tản Đà đối với văn đàn được đánh giá lại một cách xác đáng hơn. Trên báo Ngày nay số 166, Tao Đàn số dặc biệt về Tản Đà, Tản Đà lại được đề cao. Các nhà thơ Mới như đ• hồi tâm lại, hối lỗi bởi sự quá khích của mình nên đ• đứng về phái khẳng định vị trí của Tản Đà trong nền văn học dân tộc. Xuân Diệu với “Công của thi sĩ Tản Đà” đ• viết: “Tản Đà là người thi sĩ đầu tiên mở đầu cho thơ Việt Nam hiện đại. Tản Đà là người thứ nhất đ• có can đảm làm thi sĩ một cách đường hoàng, bạo dạn, dám giữ một bản ng•, dám có một cái “Tôi”; dám cho trái tim và linh hồn được có quyền sống cái đời riêng của chúng. Tản Đà còn là một thi sĩ rất An Nam” [29,73].
Một số nhà văn khác như Nguyễn Tuân, Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Khái Hưng đ• nhìn Tản Đà với “những nét cá tính ngang tàng, phóng túng, tài hoa, dị thường” [29,515]. Lưu Trọng Lư cũng viết về chân dung Tản Đà với những phẩm chất như vậy. Trúc Khê viết về một Tản Đà triết học. Nguyễn Xuân Huy đánh giá tài năng Tản Đà qua việc dịch văn thơ... 
Đến 1942 với Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh, Hoài Chân [24] và Nhà văn hiện đại của Vũ Ngọc Phan [15] thì những giá trị, đóng góp cho văn học của Tản Đà cũng như những giới hạn của ông đ• được tìm hiểu, nghiên cứu và tiếp cận một cách rõ hơn. Hoài Thanh - Hoài Chân trong “Cung chiêu anh hồn Tản Đà” đ• viết: “trên hội Tao Đàn chỉ có tiên sinh là người của hai thế kỷ; là người đ• dạo bản đàn mở đầu cho một cuộc hoà nhạc tân kỳ đang sắp sửa. Có tiên sinh, người ta sẽ thấy rõ chúng tôi không phải là những quái thai của thời đại, những đứa thất cước không có liên lạc gì với quá khứ của giống nòi”[24,11-12]. Như vậy, Tản Đà đ• được Hoài Thanh - Hoài Chân xem như là dấu nối giữa cái mới và cái cũ. Vũ Ngọc Phan cũng cho rằng văn xuôi của Tản Đà là tang chứng của thời “văn quốc ngữ còn phôi thai” [15].
Cũng trong năm 1942, ở Việt Nam văn học sử yếu [10], Dương Quảng Hàm  nhấn mạnh một số đặc điểm của văn chương Tản Đà vốn đ• được nhiều người nói đến như: ngôn ngữ, nhịp điệu thơ nhẹ nhàng, Việt Nam thuần tuý. Ông còn nhấn mạnh tính ngông, phóng túng ở Tản Đà. Dương Quảng Hàm cũng đ• đưa Tản Đà vào chương trình dạy văn ở nhà trường.
 Như vậy, ở giai đoạn này, Tản Đà đ• được đánh giá rất cao, được tiếp cận một cách sâu sắc và đa chiều.
3.1.2. Sau 1945 đến những năm 80:
Sau  cách mạng tháng Tám, dân tộc ta lại tiếp tục bước vào cuộc chiến đấu chống sự xâm lăng của thực dân Pháp. Văn học giai đoạn này chủ yếu để phục vụ kháng chiến, làm công tác tư tưởng. Nó trở thành vũ khí để đấu tranh cách mạng. Vì thế vệc giảng dạy văn học yêu nước là vấn đề cấp thiết. Bởi vậy, lúc này, vấn đề yêu nước, vấn đề giai cấp trở thành tiêu chí để đánh giá văn học và nó là đối tượng quan tâm số một của các nhà phê bình nghiên cứu. Các sáng tác của Tản Đà cũng không tránh khỏi quy luật chung ấy. Tản Đà trong suốt thời kỳ này hầu như không được nói đến, có chăng cũng rất ít. Suốt một thời gian dài, từ cuối những năm 50 đến những năm 70, Tản Đà được tập trung chú ý và đánh giá ở các mặt yêu nước, giai cấp, thái độ chính trị đối với quân xâm lược như thế nào. Và cuối cùng tiêu điểm của sự đánh giá, tranh luận về Tản Đà chính là bài thơ Thề non nước - nó là biểu hiện của lòng yêu nước hay tình yêu đôi lứa? Với tác phẩm này, vấn đề yêu nước của Tản Đà đ• được một số tác giả nhìn nhận và khẳng định.
Không giống như thời kỳ sau cách mạng tháng Tám đến những năm 60, thời kỳ 1960 đến 1980 ,Tản Đà  được nghiên cứu rất nhiều.Vấn đề trung tâm, chủ yếu vẫn là việc đánh giá xem Tản Đà có yêu nước hay không, Tản Đà tư sản hay phong kiến và thái độ của ông với thực dân Pháp như thế nào qua Thề non nước.
Nguyễn Đình Chú với bài Tản Đà có yêu nước hay không? đ• khẳng định có biểu hiện của lòng yêu nước ở Tản Đà . Nhưng một số tác giả khác lại không đồng ý với nhận định trên.
Những năm 70, trên Tạp chí văn học xuất hiện các cuộc tranh luận với ba loại ý kiến: ý kiến một cho rằng Thề non nước có cả hai chủ đề: yêu nước và tình yêu đôi lứa; ý kiến hai chỉ thừa nhận chủ đề yêu nước; và ngược lại, ý kiến ba lại phủ nhận chủ đề yêu nước và khẳng định tình yêu đôi lứa. Cuối cùng cuộc tranh luận vẫn không kết thúc và chưa có sự thống nhất giữa ba ý kiến trên.
Bên cạnh vấn đề yêu nước, vấn đề giai cấp ở Tản Đà cũng được đặt ra. Tầm Dương trong Tản Đà - khối mâu thuẫn lớn (1964) đ• cho rằng: tư tưởng cơ bản ở Tản Đà là tư tưởng thuộc ý thức hệ tư sản, tư tưởng phong kiến và tiểu tư sản giữ cương vị thứ yếu [5]. Trước đó thì Minh Tranh và Nguyễn Kim Giang đ• xếp Tản Đà vào giai cấp tư sản. Sau Tầm Dương, Nguyễn Khắc Xương và Nguyễn Đình Chú lại xếp Tản Đà vào tầng lớp nho sĩ. Còn Trần Đình Hượu trong Văn học Việt Nam giai đoạn giao thời (1974) đ• đặt Tản Đà vào giai đoạn giao thời và xếp ông vào mẫu nhà nho tài tử [12].
Tóm lại, thời gian này, Tản Đà được nghiên cứu khá nhiều và chủ yếu tiếp cận ở vấn đề giai cấp, vấn đề yêu nước và xoay xung quanh tác phẩm Thề non nước của ông.
3.1.3. Thời kỳ từ 1980 đến nay:
Cuối những năm 70 - đầu 80, Tản Đà ít được bàn thêm. Đến 1982, khi viết lời giới thiệu cho cuốn Thơ Tản Đà chọn lọc [4], Xuân Diệu tiếp tục khẳng định công của thi sĩ Tản Đà là đ• đưa cái tôi cá nhân vào văn học.
Năm 1984, trong Từ điển văn học [1], Nguyễn Huệ Chi đ• đánh giá Tản Đà là một hiện tượng đột xuất, vừa độc đáo vừa dồi dào năng lực sáng tạo, là một cây bút phóng khoáng, một nhà thơ giao tiếp giữa hai thế hệ cổ điễn và thơ Mới. Đặc biệt năm 1988, khoa Văn trường đại học Tổng Hợp đ• tổ chức một hội thảo khoa học kỷ niệm 100 năm ngày sinh của thi sĩ Tản Đà. ở cuộc hôị thảo này xuất hiện thêm một số gương mặt mới như Lê Chí Dũng, Nguyễn Hữu Sơn, Đức Mậu... bên cạnh những người đ• nghiên cứu Tản Đà trước đây: Trần Đình Hượu, Tầm Dương, Nguyễn Khắc Xương... Tất cả họ đều khẳng định vị trí của Tản Đà ở giai đoạn văn học Việt Nam cận đại.
Qua lịch sử tìm hiểu, tiếp cận Tản Đà, chúng ta có thể kết luận rằng: với lịch sử nghiên cứu khoảng 80 năm, Tản Đà đ• được đánh giá khá sâu sắc từ nhiều góc độ, bình diện khác nhau. Tuy nhiên, ông vẫn là một hiện tượng văn học phức tạp, vẫn khiến cho nhiều nhà phê bình nghiên cứu quan tâm và ông sẽ còn tiếp tục được khám phá nữa.
3.2. Vấn đề cái Tôi trong sáng tác của Tản Đà nói chung và trong thơ Tản Đà nói riêng đang là một vấn đề đòi hỏi phải được tiếp tục nghiên cứu. Tìm hiểu và nghiên cứu về hiện tượng Tản Đà, trong đó có vấn đề cái Tôi tác giả, đ• có một số tác giả với một số bài viết đ• đề cập đến như Xuân Diệu với “Công của thi sĩ Tản Đà”, “lời giới thiệu” cho Tuyển tập Tản Đà; Nguyễn Khắc Xương với Tản Đà - thơ và đời; Nguyễn Huệ Chi với từ mục “Tản Đà” trong Từ điển văn học...Mặc dù cái Tôi trong sáng tác của Tản Đà đ• được tìm hiểu trên một số phương diện nhưng thực ra cũng chưa có một công trình nào tập trung, chuyên sâu nghiên cứu nó. 
3.3. Luận văn của chúng tôi là công trình đầu tiên xét cái Tôi “ngông” trong thơ Tản Đà như một đối tượng chuyên biệt với một cái nhìn hệ thống, toàn diện.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu:
4.1. Đề tài có nhiệm vụ giới thuyết về khái niệm cái Tôi và cái Tôi ngông trong sáng tác văn học đến Tản Đà.
4.2. Khảo sát, phân tích, xác định những biểu hiện và đặc diểm của cái Tôi “ngông” trong thơ Tản Đà.
4.3. Tìm hiểu, xác định những đóng góp của Tản Đà cho lịch sử văn học dân tộc qua hiện tượng cái Tôi “ngông” trong thơ tác giả.
5. Phương pháp nghiên cứu:
Xuất phát từ nhiệm vụ của đề tài, luận văn vận dụng quan điểm của thi pháp học, phong cách học nghệ thuật với nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau như thống kê, khảo sát, phân tích, so sánh loại hình, hệ thống... để tìm hiểu vấn đề này.
6. Đóng góp và cấu trúc của luận văn:
6.1. Đóng góp của luận văn:
Thực hiện tốt được các nhiệm vụ với các phương pháp trên đây, luận văn sẽ đưa ra một cái nhìn hệ thống về cái Tôi “ngông” trong thơ Tản Đà - một biểu hiện cơ bản, độc đáo của phong cách tác giả. Cũng từ đây, luận văn hy vọng góp phần vào việc tìm hiểu một hiện tượng lớn của lịch sử văn học dân tộc. Và chúng tôi coi đây như là một tài liệu hữu ích giúp cho việc giảng dạy tốt hơn thơ văn Tản Đà ở nhà trường phổ thông.
6.2. Cấu trúc của luận văn:
Phù hợp với lôgic của vấn đề đặt ra, luận văn ngoài phần Mở đầu và Kết luận được cấu trúc thành ba chương như sau:
Chương 1: Khái niệm về cái Tôi và cái Tôi “ngông” trong sáng tác văn học đến Tản Đà.
Chương 2: Đặc trưng cái Tôi “ngông” trong thơ Tản Đà.
Chương 3: Đóng góp cho lịch sử dân tộc qua hình tượng cái Tôi “ngông” và sự thể hiện cái Tôi “ngông” của tác giả.
 

Ghi chú: Tài liệu này được thành viên thuvien24 đăng lên thư viện. Theo quy định điều khoản sử dụng, Thuvien24.com không chịu bất kỳ trách nhiệm nào đối với bản quyền tài liệu. Bạn tự cân nhắc trước khi tải tài liệu.
Xem bình luận
Cảm ơn website đã chia sẻ rất nhiều tài liệu đến mọi người
dangson0123
tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến toàn thể quý BQT website!
hoangha1983
Cảm ơn web đã gửi cho tài liệu.
thanhhuong251088
Nhờ hỗ trợ của Thuvien24 mà mình tìm được tài liệu này. Cảm ơn các bạn.
NhanPhan
Xin cảm ơn ban quản trị đã giúp đỡ
  • Tài liệu mới
  • Tài liệu nổi bật
  • Tài liệu liên quan
  • Tài liệu cùng người đăng