Kiểm toán chu kỳ bán hàng và thu tiền trong một cuộc kiểm toán báo cáo tài chính

Kiểm toán chu kỳ bán hàng và thu tiền trong một cuộc kiểm toán báo cáo tài chính

Khuyến mại Chính sách bảo hành

Thể loại: Kế toán - Kiểm toán

Cập nhật:

Kiểu file: zip

Người đăng:

Điểm download: 200

Lượt tải: 7

để ủng hộ website nếu bạn thấy tài liệu này có giá trị, xin cám ơn!
Click
Chính sách đảm bảo Tài liệu này của thành viên nguyenvinh và được Thuvien24.com đảm bảo. Xem chi tiết

 

Trong những năm gần đây, nước ta hoà mình trong không khí hội nhập kinh tế của toàn cầu. Mỗi thay đổi trong nền kinh tế thị trường là một lỗ lực của Đảng và toàn dân. Là một bộ phận của nền kinh tế, hoạt động kiểm toán ngày càng nhiều cơ hội để phát triển để trở thành công cụ quản lý vĩ mô nền kinh tế. Hoạt động kiểm toán đẫ trở thành bắt buộc với tất cả các doanh nghiệp ở nước ta, là một môI trường lý tưởng để hoạt động kiểm toán lớn mạnh và hoàn thiện với nhiều loại hình dịch vị đa dạng.

Kiểm toán độc lập là một hoạt động cần thiết cho doanh nghiệp và lợi ích của các nhà đầu tư trong và ngoài nước, lợi ích của chủ sở hữu vốn, của chủ nợ và yêu cầu của Nhà nước. Những cá nhân và tổ chức sử dụng báo cáo kiểm toán phải được đảm bảo rằng thông tin họ được cung cấp trong báo cáo kiểm toán là những thông tin chính xác, trung thực, khách quan và có độ tin cậy cao để làm căn cứ cho các kế hoạch cũng như các quyết định quan trọng của mình.

Xuất hiện ở nước ta gần 20 năm truớc đây nhưng nhàng kiểm toán đã có những bước tiến quan trọng trên con đường cuả mình. Đến nay hoạt động kiểm toán đã có thêm nhiều loại hình dịch vụ mới. Trong đó kiểm toán báo cáo tài chính là một loại hình dịch vụ phát triển nhất và là thế mạnh của  những công ty kiểm toán độc lập tại Việt Nam.

Chu kỳ bán hàng và thu tiền là một chu kỳ có mối quan hệ mật thiết với các chi kỳ nghiệp vụ cơ bản khác, là giai đoạnh cuối cùng để đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Chu kỳ này ảnh hưởng đến các chỉ tỉêu quan trọng trên báo cáo  tài chính và liên quan trực tiếp đến các bên đối tác nên kiểm toán chu kỳ bán hàng và thu tiền có ý nghĩa quan trọng đối với người sử dụng thông tin trên báo cáo tài chính.

Nhận biết được tầm quan trọng trên, trong quá trình học tập tại trường Đại học dân lập Phương Đông, kết hợp với qúa trình thực tập tại Công ty TNHH Kiểm toán kế toán và dịch vụ tài chính Việt Nam em đã chọn đề tài: “Kiểm toán chu kỳ bán hàng và thu tiền trong một cuộc kiểm toán báo cáo tài chính”.

Nội dung của chuyên đề ngoài phần mở đầu và kết luận, gồm có các phần chính sau:

Phần I:  Lý luận chung về công tác kiểm toán bán hàng và thu tiền trong một cuộc kiểm toán báo cáo  tài chính.

Phần II: Thực trạng công tác kiểm toán bán hàng và thu tiền trong quá trình kiểm toán báo cáo tài chính ở Công ty TNHH Kiểm toán kế toán và dịch vụ tài chính Việt Nam.

Phần III:  Kiến nghị và phương hướng hoàn thiện công tác kiểm toán chu kỳ bán hàng và thu tiền.

Tuy nhiên, kiểm toán là một lĩnh vực còn khá mới mẻ ở Việt Nam cả về lý thuyết lẫn thực tế và do những hạn chế về kinh nghiệm và chuyên môn nên bài viết của em không tránh khỏi những thiếu sót. Kính mong các thầy cô giáo cùng quý công ty TNHH Kiểm toán kế toán và dịch vụ tài chính góp ý, giúp đỡ để chuyên đề thực tập của em có thể hoàn thiện hơn.

Em xin chân thành cảm ơn!

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

I.                   KÝ LUẬN CHUNG VỀ KIỂM TOÁN.

1.     Khái niệm:

Có nhiều khái niệm về kiểm toán, nhưng khái niệm được chấp nhận rộng rãi nhất hiện nay:

“Kiểm toán là một quá trình thu thập và đánh giá bằng chứng về những thông tin được kiểm tra nhằm xác định và báo cáo về mức độ phù hợp giữa những thông tin đó với những chuẩn mực đã được thiết lập. Quá trình kiểm toán phai được thực hiện bởi những kiểm toán viên đủ năng lực và độc lập.”

Các thuật ngữ trong định nghĩa trên được hiểu như sau:

-   Thông tin được kiểm tra có thể là báo cáo tài chính doanh nghiệp, tờ khai thuế, quyết toán ngân sách của cơ quan nhà nước.

-   Các chuẩn mực kiểm toán được thiết lập là cơ sở để đánh giá các thông tin được kiểm tra, ví dụ như đối với báo cáo tài chính của đơn vị thì kiểm toán viên dựa vào các chuẩn mực hay chế độ kế toán hiện hành; đối với tờ khai thuế sẽ là luật Thuế…

-   Bằng chứng là các thông tin để chứng minh cho ý kiến nhận xét của kiểm toán viên. Đó có thể là tài liệu kế toán của đơn vị, thư xác nhận công nợ của người mua…Do đó quá trình kiểm toán bao gồm việc thu thập các bằng chứng đó có đầy đủ và thích hợp cho ý kiến nhận xét của kiểm toán viên hay không?

-   Báo cáo là văn bản trình bày ý kiến của kiểm toán viên về phương diện mà những người sử dụng quan tâm. Nội dung và hình thức báo cáo phụ thuộc vào mục đích của từng loại kiểm toán.

-   Kiểm toán viên có đủ năng lực và độc lập để có thể thực hiện được công việc kiểm toán. Năng lực của kiểm toán viên là trình độ nghiệp vụ được hình thành qua đào tạo và kinh nghiệm, giúp cho kiểm toán viên có khả năng xét đoán công việc trong từng trường hợp cụ thể. Sự độc lập với đối tượng kiểm toán là một yêu cầu cần thiết để duy trì sự khách quan của kiểm toán viên và tạo đựơc sự tin cậy của người sử dụng kết quả kiểm toán.

2. Chức năng của kiểm toán.

Kiểm toán có 2 chức năng cơ bản đó là chức năng xác minh và chức năng bày tỏ ý kiến, đây là 2 chức năng quan trọng để đưa ra những ý kiến thuyết phục, tạo niềm tin cho những người quan tâm vào những kết luận của kiểm toán cho dù là kiểm toán hướng vào lĩnh vực nào trong 4 lĩnh vực chủ yếu trên.

a. Chức năng xác minhnhằm khẳng định mức độ trung thực của tài liệu và tính pháp lý của việc thực hiện các nghiệp vụ hay việc lập các bản khai tài chính....Xem có tuân thủ theo chế độ tài chính hiện hành hay không.

Theo thông lệ Quốc tế thì chức năng xác minh được cụ thể hoá thành các mục tiêu và tuỳ thuộc vào đối tượng hay loại hình kiểm toán mà các mục tiêu có thể khác nhau.

 b. Chức năng bày tỏ ý kiếnđược bày tỏ dưới 2 góc độ.

Góc độ tư vấn đưa ra các lời khuyên trong thư quản lý về vến đề thực hiện các quy tắc kế toán và hoạch định các chính sách, thực thi các chế độ, pháp luật, về hiệu quả kinh tế và hiệu năng quản lý.

Góc độ bày tỏ ý kiến được thể hiện qua việc phán sử như một quan toà hoặc kết hợp với xử lí tại chỗ như công việc của thanh tra.

Như vậy, có thể nói:  Kiểm toán là xác minh và bày tỏ ý kiến về thực trạng hoạt động được kiểm toán bằng hệ thống các phương pháp kỹ thuật của kiểm toán chứng từ và ngoài chứng từ do các kiểm toán viên có nghiệp vụ tương xứng trên cơ sở hệ thống pháp lý có hiệu lực.

3.Phân loại kiểm toán

3.1 Phân loại theo tính chất hoạt động

Theo cách phân lịa này kiểm toán có 3 loại như sau: kiểm toán hoạt động, kiểm toán tuân thủ và kiểm toán báo cáo  tài chính.

3.1.1. kiểm toán hoạt động

kiểm toán hoạt động là việc kiểm tra đánh giá về sự hiện hữu và tính hiệu quả đối với hoạt động của một bộ phận hay toàn bộ một tổ chức, từ đó đề xuất những biện pháp cảI tiến. Sự hiện hữu là mức độ hoàn thành nhiệm vụ hay mục tiêu , còn tính hiệu quả được tính bằng cách so sánh giữa kết quả đạt được và chi phí.

3.1.2 kiểm toán tuân thủ

kiểm toán tuân thủ là việc kiểm tra nhằm đánh giá mức độ chấp hành một quy định nào đó, thí dụ các văn bản pháp luật, các điều khoản của một hợp đồng hay một quy định nội bộ của đơn vị.

3.1.3 Kiểm toán báo cáo  tài chính.

Kiểm toán báo cáo tài chính là sự kiểm tra và xác nhận tính trung thực và hợp lý về các báo cáo tài chính của các đơn vị được kiểm toán.

3.2 Phân loại chủ thế kiểm toán.

Theo cách phân loại này có 3 loại: kiểm toán nội bộ, kiểm toán nhà nước và kiểm toán kiểm toán độc lập.

3.2.1 Kiểm toán nội bộ

Kiểm toán nội bộ là việc kiểm tra và đánh giá tình hình chấp hành các quy chế nội bộ của doanh nghiệp do người của doanh nghiệp thực hiện và do yêu cầu của doanh nghiệp

3.2.2 Kiểm toán nhà nước

Kiểm toán nhà nước là việc kiểm tra và xác nhận tính đúng đắn trung thực và chính xác của các số liệu, tài liệu, thông tin kinh tế tài chính của các đơn vị được kiểm toán do kiểm toán viên nhà nước thực hiện theo yêu cầu quản lý của nhà nước

3.2.3. Kiểm toán độc lập

Kiểm toán độc lập là việc kiểm tra và xác nhận tính trung thực hợp lý của các số liệu, tài liệu, các thông tin kinh tế tài chính của các đơn vị được kiểm toán do các kiểm toán viên chuyên nghiệp độc lập thực hiện theo yêu cầu của nhà nước, doanh nghiệp hoặc theo thoả thuận.

 

4. Quy trình thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính.

Trên cơ sở trình tự chung của một cuộc kiểm toán, kiểm toán tài chính đựoc thực hiện theo trình tự với những bứơc cơ bản sau:

Bước1: Chuẩn bị kiểm toán.

Từ thư mời (hoặc lệnh) kiểm toán, kiểm toán viên tìm hiểu khách thể kiểm toán với mục đích hình thành hợp đồng hoặc kế hoạch chung cho cuộc kiểm toán. Tiếp đó, kiểm toán viên cần thu thập các thông tin, thẩm tra và đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ của khách thể kiểm toán để xây dựng kế hoạch kiểm toán. Để thực hiện những công việc trên, các trắc nhiệm chủ yếu được thực hiện là các trắc nghiệm mức đạt yêu cầu của công việc và trắc nghiệm phân tích. Đồng thời với công việc kiểm toán cần chuẩn bị cả phương tiện và lực lượng giúp việc (nếu cần) cho việc triểm khai kế hoạch và chương trình kiểm toán đã xây dựng.

Bước 2: Thực hiện công việc kiểm toán.

Đây là quá trình sử dụng các trắc nghiệm chủ yếu là trắc nghiệm cơ bản, vào việc xác minh các thông tin phản ánh trên bảng khai tài chính. Trình tự kết hợp giữa các trắc nghiệm này trước hết tuỳ thuộc vào kết quả đánh giá là không có hiệu lực thì trước hết trức nghiệm độ tin cạy được ứng dụng với số lượng ít để xác minh những sai sót có thể có. Nếu trắc nghiệm mức đạt yêu cầu lại cho kết quả là hệ thống kiểm soát nội bộ có hiệu lực thì trắc nghiệm độ tin cậy sẽ lại thực hiện với số lượng lớn.

Quy mô cụ thế của các trắc nghiệm cũng như trình tự và cách thức kết hợp giữa chúng phụ thuộc rất nhiêù vào kinh nghiệm và khả năng phán đoán của kiểm toán viên với mục đích có được bằng chứng đầy đủ và tin cậy với chi phí kiểm toán thấp nhất.

Bước 3:Hoàn tất công việc kiểm toán.

Kết quả các trắc nghiệm trên phải được xem xét trong quan hệ hợp lý chung và kiểm nghiệm trong quan hệ với các sự việc bất thường, những nghiệp vụ phát sinh sau ngày lập bảng khai tài chính . Chỉ trên cơ sở đó mới đưa ra được kết luận cuối cùng và lập báo cáo kiểm toán.

 

II.                KIỂM TOÁN CHU KỲ BÁN HÀNG VÀ THU TIỀN TRONG MỐI QUAN HỆ VỚI KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH.

1.     Bản chất chức năng kế toán của chu kỳ bán hàng và thu tiền.

Theo chế độ kế toán hiện hành của Việt Nam quá trình tiêu thụ được thực hiện khi hàng hoá, lao vụ, dịch vụ đã được chuyển giao cho người mua, được người mua trả tiền hoặc chấp nhận thanh toán. Về bản chất tiêu thụ là quá trình thực hiện giá trị và giá trị sử dụng của sản phẩm hàng hoá lao vụ, dịch vụ đồng thời tạo vốn để tái sản xuất mở rộng. Thực hiện tốt quá trình tiêu thụ sản phẩm doanh nghiệp mới có thể thu hồi vốn và thực hiện được giá trị thặng dư một nguồn thu quan trọng để tích luỹ vào ngân sách và các quỹ của doanh nghiệp nhằm mở rộng quy mô sản xuất và nâng cao đời sống người lao động

Dưới góc độ kiểm toán quá trình bán hàng và thu tiền liên quan đến nhiều chỉ tiêu trong bảng cân đối kế toán (Như tài khoản tiền, các khoản phải thu, các khoản dự phòng phải thu khó đòi) và bảng cân đối kết quả kinh doanh(doanh thu, các khoản giảm trừ doanh thu, khoản chi phí dự phòng và các khoản thu nhập bất thường có được từ các khoản hoàn nhập dự phòng...). Đây là những chỉ tiêu cơ bản mà những người quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp dùng để phân tích khả năng thanh toán, tiềm năng, hiệu quả kinh doanh, triển vọng phát triển cũng như những rủi ro tiềm tàng trong tương lai vì thế các chỉ tiêu này thường bị phản ánh sai lệch theo. Để có được những hiểu biết sâu sắc về chu trình bán hàng và thu tiền thì trước hết phảI nắm được các đặc điểm, các thuộc tính của chu kì.

Các đặc đIểm của chu kỳ bán hàng và thu tiền gồm có:

- Mật độ phát sinh của các nghiệp vụ tiêu thụ tương đối lớn và phức tạp.

- Có liên quan đến đối tượng bên ngoàI doanh nghiệp.

- Chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của quy luật cung cầu.

- Doanh thu là cơ sở để đánh giá hiệu quả của một quá trình kinh doanh và lập phương án phân phối thu nhập đồng thời thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước nên chỉ tiêu này dễ bị xuyên tạc.

- Các quan hệ thanh toán trong mua bán rất phức tạp, chiếm dụng vốn lẫn nhau, công nợ dây dưa khó đòi. Tuy nhiên, việc lập dự phòng nợ khó đòi lạI mang tính chủ quan và thường dựa vào khả năng ước đoán của Ban Giám đốc nên rất khó kiểm tra và thường bị lợi dụng để ghi tăng chi phí.

- Rủi ro đối với các khoản mục trong chu kỳ này xảy ra theo nhiều chiều hướng khác nhau có thể bị ghi tăng, ghi giảm hoặc vừa tăng vừa giảm theo ý đồ của doanh nghiệp hoặc một số cá nhân. Chẳng hạn khoản phảI thu có thể bị khai tăng để che đậy sự thụt két hoặc doanh thu có thể bị ghi giảm nếu nhằm mục đích trốn thuế, và khai tăng nhằm cảI thiện tình hình tàI chính doanh nghiệp. Vì thế việc kiểm toán chu kỳ bán hàng và thu tiền tương đối tốn kém và mất thời gian. Với chức năng xác minh và bày tỏ ý kiến về các thông tin tàI chính nói chung và các thông tin về chu trình bán hàng thu tiền nói riêng thì kiểm toán viên không thể không xem xét những đặc đIểm của chu kỳ và ảnh hưởng của nó đến việc lập kế hoạch và thiết kế phương pháp kiểm toán sao cho có hiệu quả.

Chu kỳ bán hàng và thu tiền gồm:

Các quyết định và các quá trình cần thiêí cho sự chuyển nhượng quyền sở hữu hàng hoá và dịch vụ cho khách hàng sau khi chúng đã sẵn sàng chờ bán. Chu kỳ bắt đầu bằng một đơn đặt hàng của khách hàng và chất dứt bằng sự chuyển đổi hàng hoá hoặc dịch vụ thành một khoản thu nhập. Khoản thu nhập này có thể là khoản phải thu của khách hàng, hoặc tiền mặt, hoặc là tiền gửi ngân hàng.

Như vậy chu kỳ bán hàng và thu tiền thực chất là quá trình doanh nghiệp đem sản phẩm, dịch vụ của mình ra thị trường, thu tiền về và kết thúc một chu kỳ sản xuất kinh doanh.

Chức năng kế toán của chu kỳ bán hàng và thu tiền

Việc hiểu về các chức năng của chu kỳ bán hàng và thu tiền của Công ty khách hàng là thật sự hữu ích cho việc hiểu cuộc kiểm toán chu kỳ đó sẽ được tiến hành như thế nào.

Chu kỳ bán hàng và thu tiền thực hiện các chức năng cơ bản sau:

-                     Xử lý đơn đặt hàng

-                     Phê chuẩn phương thức bán hàng hoặc cung cấp dịch vụ

-                     Chuyển giao hàng hoá dịch vụ

-                     Phát hành hoá đơn và ghi sổ

-                     Xử lý vào sổ doanh thu hàng bán bị trả lại hoặc được giảm giá

-                     Lập dự phòng nợ phải thu khó đòi

-                     Xoá sổ các khoản nợ phải thu không thu được

Mục tiêu kiểm toán chu kỳ bán hàng và thu tiền

Khi kiểm toán chu kỳ bán hàng và thu tiền kiểm toán viên thường tập chung vào các mục tiêu sau:

Mục tiêu về tính đầy đủ

Mục tiêu này đòi hỏi tất cả các nghiệp vụ bán hàng trong kỳ đều phải lập hoá đơn bán hàng và ghi sổ kế toán.

Mục tiêu về tính hiện hữu:

Doanh thu về bán hàng và cung cáp dịch vụ phản ánh trên sổ kế toán phải có thật có nghĩa là chỉ phản ánh vào tài koản doanh thu những hàng hoá dịch vụ đã được xác định là tieu thụ.

Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 14 “Doanh Thu” quy định một hàng hoá được xác định là tiêu thụ khi nó thoả mãn đồng thời 5 điều kiện sau:

-   Doanh nghiệp đã chuyển giao phân flớn rủi ro và lợi ích kinh tế gắn liền với sản phẩm hàng hoá.

-   Doanh thu đựơc xác nhận một cách tương đối chắc chắn.

-   Doanh nghiệp không còn nắm giữ quyền quản lý hàng hoá như người sở hữu hàng hoá hoặc quyền kiểm soát hàng hoá.

-   Doanh nghiệp chác chắn thu được lợi ích kinh tế từ việc bán hàng(tức là doanh nghiệp đã thu được tiền hoặc người mua đã chấp nhận thanh toán)

-   Doanh nghiệp phải xác định được chi phí tương đối tạo nên doanh thu đó (tức là doanh nghiệp đã bỏ tiền ra để mua nguyên vật liệu để chế tạo ra sản phâmr hàng hoá hoặc đã bỏ tiền ra mua hàng hoá.)

·           Đối với dịch vụ thì nó đòi hỏi 4 yêu cầu sau:

-   Doanh nghiệp phảI xác định đuợc khối lượng công việc đã hoàn thành vào ngày lập báo cáo  tài chính.

-   Doanh thu dịch vụ được xác định một cách chắc chắn.

-   Doanh nghiệp chắc chắn thu được lợi ích kinh tế từ việc cung cấp các dịch vụ.

-   Doanh nghiệp đã xác định được chi phí hoàn thành dịch vụ

1.3.3 Mục tiêu về tính chính xác

Mục tiêu náy đòi hỏi doanh thu phải được xác định mtj cách chính xác, tính chính xác ở đây được biểu hiện là: Số tiền bán hàng phải tương ứng với số lượng hàng hoá dịch vụ và giá bán sản phẩm đó.

Doánh thu phản ánh trên sổ chi tiết bán hàng phải phù hợp với số liệu trên báo cáo tài chính và số liệu ghi trên hoá đơn bán hàng. Trường hợp hoá đơn bán hàng đã ghi giá có thuế GTGT thì doanh nghiệp phải xác định lại giá bán chưa có thuế để ghi nhận doanh thu.

1.3.4 Mục tiêu về tính trình bày

 Mục tiêu này đòi hỏi doanh thu phải đựoc trình bày trên báo cáo tài chính đúng với chế độ kế toán doanh nghiệp áp dụng và chính sách kế toán doanh nghiệp công bố.

Cụ thể doanh thu phải được trình bày theo các chỉ tiêu:

-   Doanh thu gộp

-   Chiết khấu hàng bán

-   Hàng bán bị trả lại

-   Giảm giá hàng bán

-   Doanh thu thuần

Mục tiêu về tính đánh gía

Mục tiêu này đòi hỏi doanh thu phảI được ghi nhận trong kỳ, phù hợp với chế độ kế toán doanh nghiệp công bố

Phương pháp kế toán ghi nhận doanh thu có thể là

-   Ghi nhận doanh thu trên cơ sở tiền mặt

-   Ghi nhận doanh thu trên cơ sở cộng dồn.

Trường hợp doanh nghiệp xuát khẩu hàng hoá dịch vụ thì doanh thu sẽ dược ghi nhận trên cơ sở số tiền gốc ngoại tẹ nhân với tỷ giá tại thời điểm giao hàng.

   Mục tiêu tính niêm độ:

Mục tiêu này dòi hỏi doanh thu phảI được ghi nhận đúng kỳ, doanh thu phát sinh oẻ thời kỳ nào thì phảit được ghi nhận ở thờ kỳ đó hoặc doanh thu phảI đuợc ghi nhận đúng niên độ kế toán mà doanh nghiệp áp dụng.

Mục tiêu về tính phân loại

Mục tiêu này đòi hỏi doanh nghiệp phảI mở sổ theo dõi chi tiết doanh thu về hàng hoá, dịch vụ cho từng mặt hàng, nhóm hàng, cho từng loại doanh thu xuất khẩu của từng loại hàng hoá, các loại doanh thu chịu thuế và doanh thu không chịu thuế.

2.     Ý nghĩa của kiểm toán chu kỳ bán hàng và thu tiền

CHu kỳ bán hàng và thu tiền là quá trình doanh nghiệp đem sản phẩm của mình bán trên thị trường kết thúc một quá trình kinhh doanh. Các chủ tiêu của chu kỳ bán hàng và thu tiền cso ý nghĩa rất quan trọng ảnh hưởng đến các chỉ tiêu trên bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh. Do đó nó có ảnh hưởng trọng yếu đến các chỉ tiêu trên bảng cân đôí kế toán và báo cáo  kết quả kinh doanh.

3.     Căn cứ để kiểm toán chu kỳ bán hàng và thu tiền

Căn cứ để kiểm toán chu kỳ bán hàng và thu tiền gồm:

-                     Báo cáo kết quả kinh doanh của năm tài chính được kiểm toán

-                     Sổ cáI tài khoản 511, TK 512, TK 521, Tk 531, TK 532, Tk 131.

-                     Sổ chi tiết TK 131

-                     Hoá đơn GTGT, hoá đơn bán hàng, hoá đơn kiêm phiếu xuất kho, Hoá đơn mua bán.

-                     Các chứng từ thanh toán

-                     Đối với xuất khẩu còn có: Giấy phép xuất khẩu của hảI quan, Vận đơn, Tờ khai hảI quan.

4.     Tổ chức kế toán bán hàng thu tiền

Bán hàng-Thu tiền là một giai đoạn trong quá trình sản xuất kinh doanh. Là giai đoạn thứ 2 sau quá trình mua vào và thanh toán đối với doanh nghiệp thương mại và là giai đoạn tiếp theo giai đoạn sản xuất đối với doanh nghiệp sản xuất. Do đó cũng giống như các giai đoạn khác tổ chức kế toán Bán hàng-Thu tiền bao gồm các nội dung sau.

a. Tổ chức chứng từ kế toán.

    Đó là quá trình thiết kế khối lượng chứng từ kế toán và quy trình hạch toán trên chứng từ theo chỉ tiêu hạch toán và đơn vị hạch toán cơ sở. Tổ chức chứng từ kế toán cho chu trình Bán hàng-Thu tiền được chia làm 2 trường hợp.

 Trường hợp 1: Hàng hoá bán ra là sản phẩm vật chất. Quy trình luân chuyển chứng từ được tổ chức theo sơ đồ sau.

Biểu 1: Quy trình luân chuyển chứng từ

 

 
 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 


Trường hợp 2: Hàng hoá là các sản phẩm phi vật chất thì quy trình luân chuyển chứng từ được tổ chức theo sơ đồ sau.

Biểu 02.


          

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

b. Các tài khoản sử dụng.

Hạch toán trên cơ sở sổ tài khoản là việc vận dụng phương pháp đối ứng tài khoản để phân loại và ghi chép, phản ánh các nghiệp vụ kinh tế phát sinh vào hệ thống sổ chi tiết và sổ tổng hợp.  Để phản ánh được thì phải xây dựng được một bộ tài khoản phản ánh đầy đủ toàn bộ thông tin có liên quan đến quá trình Bán hàng-Thu tiền. Bộ tài khoản đó bao gồm các tài khoản sau.

Tài khoản  511 -  Doanh thu Bán hàng

Tài khoản   512-   Doanh thu bán hàng nội bộ.

Tài khoản 515-        Doanh thu hoạt động tài chính

 

Tài khoản   521-   Chiết khấu Bán hàng.

Tài khoản   531-   Doanh thu hàng bán bị trả lại.

Tài khoản   532-   Giảm giá hàng bán

Tài khoản   131-   Phải thu khách hàng.

Tài khoản   3387- Doanh thu chưa thực hiện

Tài khoản   139 -  Dự phòng phải thu khó đòi.

Tài khoản   641-   Chi phí bán hàng

Tài khoản   642-   Chi phí quản lý doanh nghiệp

Tài khoản   711-   Thu nhập khác

Tài khoản  3331-  Thuế giá trị gia tăng đầu ra.

Tài khoản   111 -  Tiền mặt tại quỹ.

Tài khoản   112-   Tiền gửi ngân hàng

   Tài khoản  004 -         Nợ khó đòi đã sử lý  

        

d. Quy trình hạch toán quá trình tiêu thụ

 

 
 

 

 


111,112,131           TK521,531,532      TK511,512                TK111,112

 

          Chiết khấu          K/c khoản giảm     doanh thu thu tiền ngay

 

  Giảm giá, hàng    trừ doanh thu

  bán trả lại                                                      TK3387

             

                                                              doanh thu  Doanh thu

                                                                kỳ này       Nhận trước

Nợ TK004 -Xoá sổ nợ khó đòi            

Có TK004 - Nợ khó đòi đã xoá sổ                      TK131,136               TK642

             Nay đòi được                           

                                                             Doanh thu  Xoá nợ phải thu

                                                            chưa thu         đòi

                                                              tiền

                               Tk711                          TK139

                                      hoàn nhập dự                   Lập dự phòng     

                                     

                                      phòng phải thu                phải thu khó đòi 

                                     khó đòi

e. Báo cáo số liệu kế toán.

Trên cơ sở hệ thống sổ chi tiết và sổ tổng hợp cuối kỳ kế toán lập bảng cân đối tài khoản và báo cáo kết quả kinh doanh phục vụ thông tin cho công tác quản lý. Từ đó nắm rõ được nội dung và quá trình hạch toán kiểm toán chu trình Bán hàng-Thu tiền, kiểm toán viên tiến hành kiểm toán.

5. Chu trình thu tiền bán hàng với công tác kiểm toán.

5.1 Hệ thống kiểm soát nội bộ trong quản lý chu trình bán hàng thu tiền

a. Các mục tiêu của hệ thống kiểm soát nội bộ. 

Đối với bất kì một nhà quản trị doanh nghiệp nào cũng luôn mong muốn hoạt động kinh doanh tại đơn vị mình diễn ra một cách có hiệu quả nhất. Điều đó thể hiện ở việc thu hồi vốn nhanh, chi phí thấp, lợi nhuận cao từ đó có thể mở rộng sản xuất kinh doanh theo cả chiều rộng và chiều sâu... Để đạt được điều đó thì tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh tại đơn vị đều phải được kiểm soát chặt chẽ nhằm đảm bảo tất cả các thông tin là đúng hiện thực, từ đó giúp cho các quản trị gia nắm bắt được các thông tin và đưa ra các quyết định kịp thời. Như vậy, lí do để doanh nghiệp xây dựng một hệ thống kiểm soát nội bộ là để giúp doanh nghiệp thoả mãn các mục tiêu của mình, và điều quan trọng để đảm bảo thành công cho quá trình kiểm tra kiểm soát trong nội bộ đơn vị là việc xây dựng một hệ thống kiểm soát nội bộ phù hợp với đặc điểm và quy mô hoạt động của doanh nghiệp.

Theo định nghĩa của liên đoàn kế toán quốc tế thì hệ thống kiểm soát nội bộ là một hệ thống các chính sách và thủ tục nhằm vào 4 mục tiêu sau.

+) Bảo vệ tài sản của đơn vị

+) Bảo đảm độ tin cậy của các thông tin.

+) Bảo đảm để thực hiện các quy định pháp lý.

+) Bảo đảm hiệu quả của hoạt động

  Như vậy, đối với một doanh nghiệp thì hệ thống kiểm soát nội bộ là toàn bộ các chính sách và thủ tục kiểm soát do đơn vị thiết lập và duy trì nhằm điều hành các hoạt động của đơn vị để đảm bảo các mục tiêu sau:

 +) Điều khiển và quản lý hoạt động kinh doanh có hiệu quả.

 +) Đảm bảo được mọi hoạt động của đơn vị đều được thực hiện đúng trật tự và được giám sát.

 +)  Phát hiện kịp thời những sự kiện bất thường trong hoạt động kinh doanh để tìm biện pháp xử lý.

 +) Ngăn chặn và phát hiện kịp thời các sai sót và gian lận trong đơn vị.                                        

Bảo vệ tài sản và thông tin không bị lạm dụng và sử dụng sai mục đích.

 +) Ghi chép kế toán đầy đủ, chính xác và đúng thể thức.

 +) Lập báo cáo tài chính kịp thời, có đủ độ tin cậy và tuân theo các yêu cầu pháp định có liên quan.

 b. Các nhân tố cơ bản trong hệ thống kiểm soát nội bộ.

b1. Môi trường kiểm soát. Bao gồm các nhân tố bên trong và bên ngoài đơn vị có tính môi trường tác động đến việc thiết kế, hoạt động và xử lý các dữ liệu của các loại hình kiểm soát nội bộ, 2 nhóm nhân tố này thể hiện trên 6 mặt chủ yếu sau.

 Mặt 1:  Đặc thù, phong cách điều hành của ban quản trị.

  Ban quản trị gồm những nhà quản lý cấp cao nắm quyền quyết định và điều hành mọi hoạt động của đơn vị nên quan điểm của và đường lối quản trị ảnh hưởng lớn đến hiệu quả hoạt động của hệ thống kiểm soát nội bộ. Có nhiều xu hướng khác nhau trong hành vi quản lý và diễn ra theo 2 chiều hướng đối lập nhau đó là cách quản lý táo bạo và cách quản lý rụt rè. Nếu ban quản trị là những người táo bạo trong việc ra quyết định thì thường dẫn đến rủi ro kiểm soát lớn. Còn nếu ban quản trị là những người quá rụt rè thì thường có những ảnh hưởng không tốt đến hoạt động kinh doanh.

Mặt 2: Cơ cấu tổ chức nói đến cách phân quyền trong bộ máy quản lý theo những xu hướng khác nhau hoặc là quá tập trung hoặc là quá phân tán. Một cơ cấu tổ chức hợp lý xẽ tạo điều kiện cho công tác phân công phân nhiệm, tránh được những chồng chéo đồng thời giúp cho việc kiểm tra giám sát và quy kết trách nhiệm.

Mặt 3: Chính sách cán bộ nói đến việc sử dụng và bồi dưỡng cán bộ và quá trình sử dụng, bồi dưỡng cán bộ có mang tính kế tục và liên tiếp hay không. Xây dựng được đội ngũ cán bộ công nhân viên giỏi về mọi mặt là yếu tố trực tiếp gia tăng hiệu quả lao động. Để xây dựng được một đội ngũ cán bộ tốt đòi hỏi phải có chính sách tuyển dụng, đề bạt và khen thưởng công bằng.

Mặt 4: Kế hoạch và chiến lược một hệ thống kiểm soát nội bộ được đánh giá là có hiệu quả khi doanh nghiệp có một chiến lược trước mắt và lâu dài. Kế hoạch và chiến lược hoạt động là căn cứ để xem xét doanh nghiệp có định hướng phát triển lâu dài.

 Mặt 5: Uỷ ban kiểm soát bao gồm những người trong bộ máy lãnh đạo cao nhất của doanh nghiệp ( những thành viên chính thức của hội đồng quản trị, những chuyên gia am hiểu về lĩnh vực kiểm soát). Uỷ ban kiểm soát thường được giao trách nhiệm giám sát quá trình báo cáo tài chính của tổ chức, gồm cả cơ cấu kiểm soát nội bộ và sự tuân thủ những điều luật và các quy định.

 Mặt 6: Các nhân tố bên ngoài. Hoạt động của đơn vị còn chịu ảnh hưởng của các nhân tố bên ngoài như luật pháp, sự kiểm tra, thanh tra của các cơ quan nhà nước, ảnh hưởng của các chủ nợ, con nợ, đặc biệt là đường lối phát triển của đất nước và bộ máy quản lý ở tầm vĩ mô.

b2. Hệ thống kế toán là một công cụ quản lý kinh tế tài chính, có chức năng thông tin và kiểm tra về tình hình tài sản bằng phương pháp chứng từ, phương pháp đối ứng tài khoản, phương pháp tính giá và phương pháp tổng hợp cân đối kế toán.

  Hệ thống kế toán bao gồm đầy đủ các yếu tố như sổ chứng từ, sổ chi tiết, hệ thống sổ tổng hợp và hệ thống bảng tổng hợp và cân đối kế toán trong đó quá trình lập và luân chuyển chứng từ đóng vai trò quan trọng trong công tác kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp.

VD: Quá trình lập và luân chuyển chứng từ.

 Lập         Duyệt          Thực thi         Ghi sổ          Lưu          Huỷ

b3: Các thủ tục kiểm soát. Thủ tục kiểm soát là chế độ và thể thức ngoài các yếu tố về môi trường kiểm soát và các đặc điểm của hệ thống kế toán đã được ban quản trị xây dựng để thoả mãn các mục tiêu của họ. Các thủ tục kiểm soát được xây dựng trên 3 nguyên tắc cơ bản sau.

  Nguyên tắc 1: Phân công phân nhiệm rõ ràng.

  Mục đích của việc phân công phân nhiệm là nhằm cách ly về trách nhiệm, ngăn ngừa các sai sót xẩy ra và nếu có xẩy ra thì cũng dễ phát hiện do trách nhiệm được phân cho nhiều bộ phận và nhiều người trong bộ phận. Mặt khác, việc phân công phân nhiệm rõ ràng sẽ tạo điều kiện cho việc chuyên môn hoá trong hoạt động và nâng cao hiệu quả công việc.

  Nguyên tắc 2: Nguyên tắc bất kiêm nhiệm.

  Mục đích của nguyên tắc này là nhằm tách biệt trách nhiệm đối với một số hành vi khác nhau trong quá trình quản lý để ngăn ngừa các hành vi lạm dụng quyền hạn trong quản lý tài sản đồng thời ngăn ngừa các sai số chủ tâm hoặc cố ý.

VD : Phân chia trách nhiệm trong việc xét duyệt và thực hiện, thực hiện và kiểm soát, hoặc thu chi tiền và ghi sổ kế toán...

Nguyên tắc 3:Chế độ uỷ quyền.

  Việc uỷ quyền được thực hiện theo 1 trong 2 hình thức.

Hình thức 1: trong cả nhiệm kỳ theo một cơ chế ổn định .

Hình thức 2: Chỉ thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định.

b4: Hệ thống kiểm toán nội bộ.

  Hệ thống kiểm toán nội bộ là bộ máy độc lập trực thuộc lãnh đạo cao nhất của đơn vị, thực hiện chức năng kiểm toán nghiệp vụ hàng ngày hoặc kiểm toán bảng khai tài chính ở các đơn vị trực thuộc.

5.2 Hệ thống các mục tiêu kiểm toán.

Kiểm toán bao gồm có 2 chức năng cơ bản trong đó có chức năng xác minh và theo thông lệ quốc tế phổ biến thì chức năng xác minh được cụ thể hoá thành các mục tiêu và tuỳ thuộc vào đối tượng hay các loại hình kiểm toán mà các mục tiêu có  thể khác nhau.

 Còn theo văn bản chuẩn mực kiểm toán 1 thì “ Mục tiêu của cuộc kiểm tra bình thường các báo cáo tài chính của các kiểm toán viên độc lập là sự trình bày một nhận xét về mức trung thực mà các báo cáo phản ánh tình hình tài chính, các kết quả độc lập và sự lưu chuyển dòng tiền mặt theo các nguyên tắc kế toán đã được thừa nhận ”. Đối với bất kỳ một cuộc kiểm toán nào các mục tiêu đặt ra nhằm cung cấp một bố cục giúp kiểm toán viên tập hợp đầy đủ bằng chứng cần thiết. Các mục tiêu đặt ra này có liên quan chặt chẽ đến việc xác nhận của doanh nghiệp mà cụ thể là ban quản trị về các tiêu chuẩn của đặc tính thông tin đã trình bày trên báo cáo tài chính. Thông thường các bước triển khai mục tiêu kiểm toán là như sau.

 

Biểu 03.

 

 

 

 

 

 
 

 

 


 

        Các báo cáo tài chính

                                    &nb

Ghi chú: Tài liệu này được thành viên nguyenvinh đăng lên thư viện. Theo quy định điều khoản sử dụng, Thuvien24.com không chịu bất kỳ trách nhiệm nào đối với bản quyền tài liệu. Bạn tự cân nhắc trước khi tải tài liệu.
Xem bình luận
Xin cảm ơn các thành viên đã đóng góp tài liệu để làm phong phú cho website này
thanhdiem1307
Thanks
vipcuchuoi02
được rùi. em cảm ơn nhé. Tại lần đầu tải tài liệu ở trang này.
Cảm ơn bạn đã chia sẻ tài liệu hữu ích này
hoaithuongqn92
​Chúc cộng đồng ngày càng phát triển và các anh chị, các bạn sẽ có thêm nhiều ý tưởng mới lạ để hỗ trợ cho mọi người, đặc biệt là các thế hệ sinh viên tiếp theo :)
  • Tài liệu mới
  • Tài liệu nổi bật
  • Tài liệu liên quan
  • Tài liệu cùng người đăng
Building a Vision

Building a Vision

Lượt down: 0

Người đăng: bkl1989

See you at the top

See you at the top

Lượt down: 0

Người đăng: bkl1989

Tool Navigator

Tool Navigator

Lượt down: 0

Người đăng: bkl1989