NGUỒN GỐC RA ĐỜI CỦA TÔN GIÁO VÀ SỰ TỒN TẠI CỦA TÔN GIÁO TRONG THỜI ĐẠI NGÀY NAY

NGUỒN GỐC RA ĐỜI CỦA TÔN GIÁO VÀ SỰ TỒN TẠI CỦA TÔN GIÁO TRONG THỜI ĐẠI NGÀY NAY

Khuyến mại Chính sách bảo hành

Thể loại: Khoa học, xã hội

Cập nhật:

Kiểu file: zip

Người đăng:

Điểm download: 200

Lượt tải: 8

để ủng hộ website nếu bạn thấy tài liệu này có giá trị, xin cám ơn!
Click
Chính sách đảm bảo Tài liệu này của thành viên nguyenvinh và được Thuvien24.com đảm bảo. Xem chi tiết

 

 

 

 

 

 

NIÊN LUẬN LUẬN

   Đề tài

NGUỒN GỐC RA ĐỜI CỦA TÔN GIÁO VÀ SỰ TỒN TẠI CỦA TÔN GIÁO TRONG THỜI ĐẠI NGÀY NAY

 

 

 

 

                            

                             Giáo viên hướng dẫn    : TS.

                             Học viên thực hiện  : P

                             Lớp                       : K4

 

 

 

 

Hà Nội - 2006

 

 

NỘI DUNG

CHƯƠNG 1. NGUỒN GỐC CỦA TÔN GIÁO

Trước khi tìm hiểu vấn đề tôn giáo ra đời do đâu, thiết nghĩ chúng ta nên hiểu thế nào là tôn giáo. Trả lời câu hỏi tôn giáo là gì? chính là tìm ra bản chất của tôn giáo. Mỗi ngành khoa học cụ thể, tuỳ phương pháp tiếp cận và mục đích nghiên cứu của mình, đưa ra những quan điểm khác nhau về tôn giáo - hay đúng hơn là định nghĩa về tôn giáo Khoa học tâm lý nghiêng về khía cạnh tâm lý tôn giáo, khoa học lịch sử tiếp cận tôn giáo, khảo cổ học nghiên cứu tôn giáo qua sự tiến hoá của con người… ứng với bao nhiêu quan điểm về nguồn gốc tôn giáo, thì có bấy nhiêu cách hiểu về bản chất tôn giáo. Ở đây, em chỉ xin đưa ra một số định nghĩa phần nào mang ý nghĩa đặc trưng cho một số trường phái và trào lưu:

-Từ điển Oxford: Tôn giáo là hệ thống tín ngưỡng và sùng bái sự nhận thức của con người với sức mạnh thiên nhiên chi phối con người, đặc biệt là của vị nhân cách thần mà con người phải phục tùng.

-A. Comte: Tôn giáo là sự sùng bái nhân loại.

-Voltaire: Tôn giáo là một sự phi lý khiến quần chúng phải phục tùng.

-Từ điển tôn giáo, Nxb từ điển Bách Khoa 2002, tôn giáo đó là những niềm tin vào lực lượng siêu nhiên, vô hình mà con người cho là linh thiêng, được con người sùng bái và khẩn cầu để nhờ cậy, che chở hoặc ban phát điều tốt lành (642).

Ngược lại với quan điểm của các nhà vô thần, các nhà thần học khẳng định tôn giáo là cái sẵn có trong mọi thời đại, mọi xã hội, Tôn giáo là thứ lấy cái thần đạo mà thiết lập và có giao ước để khiến người ta sùng bái và tín ngưỡng tôn giáo là tâm hướng của họ đến thần linh. Tôn giáo tồn tại vĩnh viễn và con người phải có tôn giáo.

Những định nghĩa trên đây dù không sai nhưng chưa làm rõ được bản chất của tôn giáo. Định nghĩa về tôn giáo phải bao gồm được những yếu tố cơ bản, những tiêu chí đánh giá quan trọng nhất của một định nghĩa tôn giáo là: sự tồn tại như giả định của các vật thể, các lực lượng hay á thực thể nằm ngoài những giới hạn khách quan trong điều kiện của con người.

Chủ nghĩa vô thần khoa học ra đời với mục đích chống lại chủ nghĩa duy tâm, khắc phục hạn chế của các nhà vô thần trước kia, đã đưa ra định nghĩa về tôn giáo chính xác, phản ánh đúng bản chất của nó. “Nhưng mọi tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh hư ảo vào đầu óc người những sức mạnh bên ngoài chi phối đời sống hàng ngày của họ, chỉ là sự phản ánh trong đó những lực lượng ở trần thế đã mang hình thức những lực lượng siêu trần thế. Mác cũng viết: “tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, cũng giống như nó là tinh thần của một thế giới không có tinh thần, tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân”.

Hai định nghĩa được xem là điển trên của những nhà Mác - xít đã trở thành mẫu mực trong việc nghiên cứu, đánh giá bản chất và vai trò của tôn giáo trong mọi thời đại. Tính bao quát của định nghĩa về tôn giáo của Mác-Ăngghen thể hiện trong nội hàm của định nghĩa. Định nghĩa này không những chỉ ra bản chất của tôn giáo, mà còn khái quát được con đường hình thành của ý thức niềm tin tôn giáo, khẳng định tôn giáo là sản phẩm của con người, do con người sáng tạo trong một giai đoạn lịch sử nhật định. Ngay cả trong thời đại ngày nay, các tôn giáo lớn trên thế giới hay các hiện tượng, phong trào tôn giáo mới dù hình thức hoạt động khác nhau, nhưng về mặt bản chất vẫn thể hiện đúng như đặc trưng mà Mác-Ăngghen đưa ra trong định nghĩa về tôn giáo của mình.

Hiện nay, tính pứhc tạp của tôn giáo thế giới đang đẩt nhiều vấn đề tranh cãi xung quanh định nghĩa về tôn giáo cho phù hợp với sự phát triển của nó. Sự khác nhau giữa tôn giáo phương Tây và tôn giáo phương Đông làm cho các nhà nghiên cứu lúng túng và không thống nhất trong cách giải quyết vấn đề. Sự khô đạo trong các tôn giáo ở phương Tây, sự quay lại với tôn giáo truyền thống ở phương Đông, sự bùng nổ của các phong trào tôn giáo mới… đang phản ánh và tiếp tục khẳng định rằng: về cơ bản, tiến trình phát triển của tôn giáo cùng thời đại là thống nhất tuân thủ theo một quy luật nhất định, nên tôn giáo ở mọi khu vực về bản chất vẫn là sự thống nhất chặt chẽ. Nhưng tính thống nhất này không thể bao hàm hay phủ nhận tính đặc thù của tôn giáo ở mỗi nước. Đó là sự khác nhau về văn hoá truyền thống mà các tôn giáo phải thích ứng để tồn tại.

Cũng như hiểu thế nào là tôn giáo, nguồn gốc ra đời tôn giáo hiện nay cũng được hiểu theo nhiều trường phái, quan điểm khác nhau. Làm rõ nguồn gốc của tôn giáo là một trong những vấn đề quan trọng nhất của tôn giáo học Mác xít và chủ nghĩa vô thần khoa học. Muốn nhận thức và giải thích sâu sắc hơn bản chất và chức năng của tôn giáo, cũng như xu hướng vận động, phát triển của tôn giáo trong thời đại ngày nay, cần làm rõ nguồn gốc của tôn giáo, có như thế sự giải thích của chúng ta mới mang tính khoa học.

Nếu chỉ dừng lại ở luận điểm tôn giáo là thế giới quan hư ảo, hoang tưởng, thì chúng ta không thể giải thích được sự tồn tại của tôn giáo trong thời đại ngày nay, nghĩa là chúng ta, phải làm rõ luận điểm của Mác - Ăngghen “Con người sáng tạo ra tôn giáo chứ không phải tôn giáo sáng tạo ra con người”. Tôn giáo là một hiện tượng xã hội, một hình thái ý thức xã hội và toàn bộ những nguyên nhân điều kiện tất yếu của tồn tại xã hội làm nảy sinh niềm tin tôn giáo chính là những nguồn gốc của tôn giáo. Chủ nghĩa vô thần khoa học chia nguồn gốc tôn giáo thành ba nguồn gốc chính: nguồn gốc xã hội, nguồn gốc nhận thức và nguồn gốc tâm lý.

1.1. Nguồn gốc xã hội của tôn giáo.

Nguồn gốc xã hội của tôn giáo là toàn bộ những nguyên nhân và điều kiện khách quan của đời sống xã hội tất yếu làm nảy sinh và tái hiện những niềm tin tôn giáo. Nguồn gốc xã hội của tôn giáo vẫn thường được xem như là nguyên nhân căn bản nhất, quan trọng nhất, phổ biến nhất làm nảy sinh niềm tin tô ngiáo từ lúc tôn giáo mới ra đời cho đến thời đại ngày nay. Bởi lẽ nguồngốc xã hội của tôn giáo bao hàm hai mặt quan hệ chính yếu nhất của đời sống con người: đó là mối quan hệ giữa con người với tự nhiên và mối quan hệ tiữa con người với con người.

1.1.1. Mối quan hệ giữa con người với tự nhiên.

Cách đây hơn mười năm, trong nhiều chuyên đề nghiên cứu tôn giáo, người ta vẫn tách rời mối quan hệ giữa con người với tự nhiên ra khỏi nguồn gốc xã hội của tôn giáo và xem đó như là một nguồn gốc tự nhiên của tôn giáo. Thực chất, sự bất lực của con người trong cuộc đấu tranh với tự nhiên là một trong hai nguồn gốc xã hội của tôn giáo. Quan hệ giữa con người với tự nhiên là mối quan hệ hữu cơ vĩnh viễn không thể tách rời. Mối quan hệ này được thực hiện thông qua những công cụ lao động, phương tiện sản xuất mà con người có. Trong buổi đầu tiến hoá, con người dường như hoàn toàn bất lực trước những hiện tượng tự nhiên dữ dội mà với một trình độ hiểu biết còn mông muội, họ không thể lý giải.

Do trình độ sản xuất thấp kém, con người nguyên thuỷ ngày càng lệ thuộc vào giới tự nhiên không chỉ ở phương diện đời sống vật chất, mà còn hằn lên một ý niệm khong tưởng trong tinh thần của họ - ý niệm về một sức mạnh siêu hình đang chi phối cuộc sống hàng ngày của họ. Thế giới tự nhiên bao quanh người nguyên thuỷ đã trở thành lực lượng thù địch, nguy hiểm với những ốm đau, bệnh tật, chết chóc, gío mưa, sấm chấp, thú dữ… mà người ta không thể hiểu nên không tránh được.

Sự sợ hãi bất lực của người nguyên thuỷ đã không đưa họ đến với những ý tưởng chống lại nó, mà lại đưa con người đến với những nghi lễ tôn giáo ó tính chất ma thuật - cái mầm mống sơ khai nhất của niềm tin tôn giáo”. Từ thời đại nguyên thuỷ, tôn giáo đã sainh ra từ những biểu tượng hết sức ngu muội tối tăm và nguyên thuỷ của con người về bản chất của chính họ và về tự nhiên bên ngoài bao quanh họ”.

Như vậy, tính chất mối quan hệ giữa con người với tự nhiên là cái quyết định sự thống trị của tự nhiên đối với con người, lực lượng sản xuất xã hội kém phát triển là cái đẩy con người đến với tâm lý sợ sệt giới tự nhiên và đến với niềm tin tôn giáo. Đó chính là nguồn gốc ban đầu của ý thức tôn giáo, được sinh ra từ mối quan hệ đặc thù giữa con người với tự nhiên. Những phát hiện khảo cổ học đã chứng minh sự xuất hiện của tôn giáo trong đời sống con người với hình thức ban đầu là tô tem giáo, bái vật giáo… các thị tộc ngày xưa đều nhấn mạnh là con cháu của một loài vật nào đó, mà đặc điểm chung là những con vật này có ý nghĩa trong đời sống của họ. Người Ai Cập thì tự gọi mình là thị tộc cò lửa, người thổ dân da đỏ Bắc Mỹ thì cho bò tót là tổ tiên của mình, hay người Việt cổ ngày xưa cũng tự cho mình là con Rồng cháu Lạc… những câu chuyện thần thoại còn lại đến ngày nay là bằng chứng về sự sáng tạo ra tôn giáo của con người từ thời nguyên thuỷ.

Ngày nay theo chiều dài tiến hoá của lịch sử nhân loại, mối quan hệ giữa con người với tự nhiên cũng chuyển biến theo hướng phần làm chủ nghiêng về phía con người xã hội. Sự phát triển vượt bậc của các ngành khoa học tự nhiên, khoa học trái đất, khoa học vũ trụ,… cùng với các sản phẩm công nghệ hiện đại đã - đang thực hiện giấc mơ chinh phục tự nhiên của con người. Sự hoàn thiện những phương tiện lao động trong hệ thống sản xuất vật chất được xem là phương thức giúp con người dần khắc phục một trong những nguồn gốc của tôn giáo, nhưng lại đặt ra những vấn đề bức xúc trong quan hệ xã hội giữa con người với con người.

1.1.2. Mối quan hệ giữa con người với con người.

Bên cạnh nỗi khiếp sợ trước những lực lượng tự nhiên siêu nhiên, con người nguyên thuỷ còn phải đối mặt với những lực lượng xã hội tự phát trong các quan hệ xã hội. Đó là những cuộc chiến tranh giữa các thị tộc, bộ lạc, sự phân công xã hội… đối với người nguyên thuỷ thì những lực lượng xã hội này cũng là một sự đe doạ khủng khiếp không thể hiểu được. Như vậy là “chẳng bao lâu bên cạnh những lực lượng thiên nhiên, lại đã xuất hiện những sức mạnh xã hội, những sức mạnh đối lập với người ta, và đối với người ta thì sức mạnh xã hội này cũng không thể hiểu được, và cũng chi phối người ta với một cái vẻ tất yếu, bề ngoài thật hệt như sức mạnh tự nhiên vậy”.

Mối quan hệ giữa con người với nhau gồm các mối quan hệ xã hội chi phối đời sống và tâm lý của con người trong đó tính tự phát của sự phát triển xã hội và ách áp bức giai cấp cùng chế độ người bóc lột người, là những yếu tố căn bản quyết định đến sự sáng tạo ra tôn giáo của con người trong xã hội.

Nghiên cứu sự ra đời của các tôn giáo lơn như Thiên Chúa giáo, Phật giáo, Hồi giáo… ta đều thấy một đặc điểm chung: đó là sự gắn bó giữa các giai cấp no lệ bị áp bức với các tôn giáo đó. Có thể xem sự hình thành các tôn giáo đều gắn với những cuộc đấu tranh phản kháng chống lại giai cấp bóc lột của các tầng lớp dưới xã hội.

Sự bất lực của con người trong đấu tranh chống lại áp bức, bất công xã hội là điều kiện đưa con người tìm đến với tôn giáo và sáng tạo ra tôn giáo như một niềm an ủi tinh thần của họ, như sự bù đắp sự bất công mà con người không tìm thấy ở ngay trong cuộc sống trần thế của mình.

Trong các hình thái kinh tế - xã hội trước xã hội xã hội chủ nghĩa, những mối quan hệ xã hội phát triển tự phát, đa dạng khống chế cuộc sống con người. Cùng một lúc, quần chúng lao động phải chịu sự áp bức bóc lột từ giai cấp thống trị không chỉ về mặt kinh tế, lệ thuộc vào chính trị mà còn bị mất quyền sống tự nhiên về mặt tinh thần. Trong tình trạng thiếu thốn cực khổ về vật chất, bị o ép cưỡng bức về tinh thần, con người đã không tìm thấy lối thoát trong trần gian nên họ đã hi vọng ảo tưởng, sự bù đắp vào một thế giới bên kia “sự bất lực của giai cấp bị bóc lột trong cuộc đấu tranh chống bọn bóc lột tất nhiên đẻ ra lòng tin vào một cuộc đời tốt đẹp hơn ở thế giới bên kia. Cũng giống y như sự bất lực của người dã man trong cuộc đấu tranh chống thiên nhiên đẻ ra lòng tin vào thần thánh, ma quỷ, vào những phép màu”.

Đặc trưng của nguồn gốc xã hội của tôn giáo về bản chất là như nhau trong mọi giai đoạn lịch sử. Nhưng trong xã hội tư bản, những lực lượng xã hội đó lại đem lại cho con người sự phá sản đột ngột, bất ngờ, trong phút chốc biến người ta thành một kẻ trắng tay, thành một người ăn xin, đẩy hàng triệu con người vào cảnh chết đói, thất nghiệp… đó chính là nguồn gốc xã hội sâu xa của tôn giáo hiện đại, mà tình trạng này sẽ còn kéo dài khi mà xã hội xã hội chủ nghĩa vẫn đang trong quá trình hình thành và xây dựng.

Như vậy, trong các xã hội có giai cấp, sự áp bức giai cấp và chế độ người bóc lột người là một nhân tố quan trọng làm nảy sinh tôn giáo. Sự áp bức về vật chất, tinh thần và quyền tự do làm cho con người trên con đường đi giải phóng mình lại ngày càng có xu hướng đi tìm thuốc phiện tôn giáo. Lênin cũng phải khẳng định rằng: “là một trong những hình thức áp bức về tinh thần, luon luôn và bất cứ ở đâu cũng đè nặng lên quần chúng nhân dân khốn khổ vì phải lao động suốt đời cho người khác hưởng, vì phải chịu cảnh bần cùng và cô độc”.

Vậy thì, phải chăng nguồn gốc xã hội của tôn giáo sẽ bị hạn chế và dần biến mất khi con người đạt đến một trình độ phát triển của lực lượng sản xuất? ý thức tôn giáo sẽ nhường chỗ cho ý thức khoa học? Xem xét tình hình tôn giáo hiện nay, kết luận này rõ ràng phải xem xét từ phương diện lý luận và thực tiễn. Tôn giáo vẫn tồn tại và có chiều hướng phát triển, thậm chí với những hình thức biến đổi phức tạp ngay trong một thời đại khoa học kỹ thuật văn minh - hiện đại của loài người. Sự thật, với sự phát triển của khoa học, sản xuất, con người đã dần thoát khỏi tình trạng lệ thuộc vào tự nhiên, từng bước làm chủ tự nhiên. Trong xã hội cũng thế, kinh tế phát triển kéo theo các quan hệ xã hội cũng thay đổi. Con ngời được quan tâm, chăm sóc về mọi mặt, trở thành mục đích của mọi ngành khoa học.

Nhưng cũng chính trong thời đại ngày nay, một nghịch lý đã xảy ra làm gia tăng sự đi tìm tôn giáo của con người. Mặt trái của sự phát triển khoa học, kinh tế đã gây ra những dịch bệnh, thiên tai mang tính chất huỷ diệt còn khủng khiếp hơn buổi sơ khai. Người ta vẫn bất ngờ và bất lực trước việc đối phó với những hiểm hoạ ấy, và người ta cho rằng đó là sự nổi giận, sự trả thù của tự nhiên.

Mặt khác, con người cũng đang tự nhận thấy rằng, sự hiểu biết về thế giới càng nhiều bao nhiêu người ta càng thấy mình nhỏ bé bấy nhiêu. Thậm chí, người ta còn hoài nghi khả năng của mình ngay trong chính kết quả mình làm ra. Không tin vào chính mình, con người tìm đến thượng đế và tin rằng nhờ có sự tác động của thượng đế (bằng cách nào đó), con người mới đạt được thành công như vậy.

Có thể thấy, bên trong và đằng sau những nguyên nhân điều kiện làm nảy sinh nguồn gốc xã hội của tôn giáo, là một hạn chế của sự nhận thức con người. Song sự nhận thức này không đơn giản chỉ là sự phản ánh của con người trước hoàn cảnh, mà sự nhận thức đã được xem xét, đánh giá như một nguồn gốc quan trọng trong nguồn gốc của tôn giáo.

1.2. Nguồn gốc nhận thức.

Lấy tồn tại xã hội làm nền tảng cho việc nghiên cứu nguồn gốc tôn giáo, chúng ta đã tìm thấy nguồn gốc quan trọng khiến tôn giáo tồn tại cho đến ngày nay: đó là nguồn gốc xã hội. Nhưng nếu chỉ có những quan hệ kinh tế thì chưa đủ để giải thích tại sao tôn giáo vẫn tồn tại trong xã hội ngày nay và phần đông dân chúng tin tưởng vào tôn giáo? vấn đề đặt ra là những sức mạnh trần thế đã biến thành sức mạnh siêu trần thế như thế nào trong ý thức con người? Tức là chúng ta tìm hiểu quá trình nhận thức làm nảy sinh ý thức niềm tin tôn giáo. Nguồn gốc nhận thức của tôn giáo chính là lịch sử nhận thức và đặc điểm quá trình nhận thức dẫn đến hình thành quan niệm tôn giáo.

Việc con người đánh mất mình một lần nữa khi sáng tạo ra tôn giáo phản ánh tình trạng khủng hoảng của chính bản thân con người. Con người từ chỗ khong nhận thức đầy đủ về mình nhưng lại biến cái mình nhận thức được về tự nhiên và xã hội thành cái cao siêu, thần thánh, và làm nảy sinh ý thức tôn giáo. Các kết luận của ngành nhân chủng học, lịch sử học… đã chứng minh lịch sử nhận thức hình thành quan niệm tôn giáo của con người . Quá trình nhận thức này cũng phát triển từ thấp đến cao, cùng với các giai đoạn tiến hoá của con người.

Với tư cách là ý thức, niềm tin tôn giáo, nhận thức của con người phải gắn với những lực lượng siêu nhiên thần thánh. Ở trình độ nhận thức sơ khai mang tính cảm tính và tri giác ta có thể khẳng định con người chưa thể sáng tạo ra tôn giáo mà chỉ nảy sinh tư tưởng khiếp sợ về một lực lượng nào đó họ không giải thích được.

Sự nhận thức sáng tạo ra tôn giáo chỉ ra đời khi con người nhận thức ra sự bất lực của mình trước tự nhiên và các thế lực xã hội khác. Đó chính là lúc con người tự ý thức được về mình, về sự tồn ại của mình trong thế giới. Trong thời kỳ nguyên thuỷ, con người đã sợ hãi trước tự nhiên, nhưng họ chưa chịu đầu hàng ngay mà vẫn tìm cách chống lại bằng những hình thức mang tính chất ma thuật kỳ quái, giản đơn. Đến một lúc nào đó, nhận ra sự vô ích trong cố gắng của mình, con người đã bắt đầu quy hàng tự nhiên và tin rằng mình không thể làm gì chống lại các đấng thần thánh siêu nhiên ấy. Khi con người không còn tin vào mình mà lại tin vào một lực lượng tưởng tượng nào đó, cũng chính là lúc họ tự đánh mất mình và sáng tạo ra tôn giáo để cầu xin sự che chở, phù trợ.

Ở một trình độ nhận thức mang tính biểu tượng, khái quát dưới dạng phản ánh sự hư ảo, tôn giáo đã ra đời gắn với sự ý thức của con người về bản thân mình trong quan hệ với thế giới bên ngoài. Tôn giáo đã trở thành sự bù đắp thoả đáng nhất trong tinh thần của con người, lấp vào phần sợ hãi bất lực của con người về những sức mạnh siêu trần thế.

Nguồn gốc nhận thức của tôn giáo còn gắn với đặc điểm của quá trình nhận thức. Thế giới hiện thực khách quan càng đa dạng phong phú bao nhiêu, thì khả năng nhận thức của con người về thế giới xung quanh càng đầy đủ và sâu sắc hơn. Những hiện tượng lặp lại hàng ngày cho người ta một biểu tượng, sự phát triển thay đổi của cây cối, thời tiết cho con người những tri thức khác nhau về tự nhiên.

Toàn bộ thế giới vật chất khách quan là tiền đề hình thành và hoàn thiện quá trình nhận thức của con người. Nhưng sự phản ánh này không đơn thuần xảy ra theo chiều tích cực, nghĩa là con người nhận thức sâu sắc và đầy đủ về bản chất của giới hiện thực, mà còn đưa đến phương hướng phản ánh sai lầm. Bản chất của nhận thức tôn giáo cũng như nhận thức duy tâm là tuyệt đối một mặt của sự vật, biến nội dung khách quan của sự vật thành hiểu biết chủ quan của chủ thể nhận thức. Thế giới hiện thực không còn thuộc về trần gian mà bay lên trời hay ở lơ lửng đâu đó. Con người tỏng nhiều hạn chế của mình đã làm ra một ý thức tôn giáo từ chính những hiện thực gần gũi xung quanh mình.

Nguồn gốc nhận thức của sự ra đời tôn giáo chính là thể hiện sự tha hoá của con người trước tự nhiên và trong lao động sản xuất. Quá trình nhận thức dẫn đến sự hình thành niềm tin tôn giáo càng khẳng định rằng, “con người sáng tạo ra tôn giáo chứ tôn giáo không sáng tạo ra con người… tôn giáo là sự tự ý thức và sự tự tri giác của con người chưa tìm thấy bản thân mình hoặc đã lại đánh mất bản thân mình một lần nữa”.

Nhận thức của con người bao giờ cũng thế, trong mọi thời đại “ngay trong sự khái quát đơn giản nhất, trong ý niệm chung sơ đẳng nhất… cũng có một phần ảo tưởng”. Dưới ánh sáng lý luận và thế giới quan của chủ nghĩa vô thần khoa học, ta có thể đưa ra kết luận rằng Thượng đế tối cao không phải là cái gì cao siêu mà là tập hợp của sự kết tinh những phẩm chất, đặc tính ưu tú nhất rút ra từ cái cây tràn trề nhựa sống là con người và giới tự nhiên.

Sự phân đôi khả năng nhận thức của con người đã đưa nhận thức trở thành một nguồn gốc của sự ra đời tôn giáo. Trong điều kiện thế giới quan duy vật khoa học được phổ biến và phát triển, có thể nguồn gốc nhận thức của tôn giáo sẽ không còn. Nhưng trong điều kiện tính đa dạng độc lập của nhận thức con người, nhận thức tôn giáo vẫn tồn tại. Khả năng nhận thức của con người là không giới hạn, hiện thực khách quan lại vô cùng tận. Vì thế, càng biết nhiều con người càng thấy biết ít về thế giới xung quanh mình. Sự ham hiểu biết làm cho nhận thức của con người ngày càng đầy đủ sâu sắc nhưng cũng lại làm cho con người bộc lộ những hạn chế của mình trước thếgiới.

Cảm giác về vị trí nhỏ nhoi, mỏng manh của mình trong thế giới la cái dẫn con người đến với tôn giáo một các tự phát. Tâm lý ấy không chỉ thể hiện sự bất lực của con người mà còn bao gồm cả những cảm xúc tích cực. Sự phức tạp của các trạng thái tình cảm này thể hiện và được nghiên cứu trong nguồn gốc tâm lý của tôn giáo - một yếu tố quan trọng giải thích sự tồn tại lâu dài của tôn giáo và sự tồn tại của tôn giáo trong thời đại ngày nay.

1.3. Nguồn gốc tâm lý của tôn giáo.

Những sự bất lực của con người trong cuộc sống trần gian là điều kiện làm nảy sinh sự phức tạp trong tâm lý của họ, tỏng đó có tâm lý tôn giáo, nguồn gốc tâm lý bao gồm những điều kiện làm nảy sinh, những hình thức biểu hiện khác nhau của tình cảm tâm lý con người dẫn đến sự ra đời của tôn giáo. Trong một điều kiện lịch sử nhất định, tôn giáo đã ra đời chỉ đơn giản là do sự sợ hãi của con người gắn với sự bất lực của họ trong quan hệ với tự nhiên và các quan hệ đồng loại khác.

Trước khi Chủ nghĩa Mác-Lênin ra đời, sự giải thích về nguồn gốc tâm lý của tôn giáo đã được một nhà duy vật điển hình của triết học cổ điển Đức là Phơ-bách phát triển và góp phần hoàn thiện. Ông cho rằng nguồn gốc tâm lý của tôn giáo không chỉ bao gồm những khía cạnh tình cảm tiêu cực như sự sợ hãi, đau khỏ, thất bại… m,à con chứa đựng cả những trạng thái tâm lý tích cực như lòng kính trọng, biết ơn… sự bổ sung trạng thái tâm lý tích cực của Phơ - Bách vào nghiên cứu nguồn gốc tâm lý tôn giáo là đóng góp quan trọng của ông. Điều này đặc biệt có ý nghĩa trong nghiên cứu các vấn đề tôn giáo ở phương Đông. Sự phức tạp khó hiểu trong nguồn gốc tâm lý của tôn giáo đặt trong bối cảnh hiện nay, nhất là khi xem xét nguyên nhân xuất hiện của các hiện tượng tôn giáo mới càng khẳng định vai trò đặc biệt quan trọng của tâm lý con người trong sự ra đời và tồn tại của tôn giáo.

Tuy vậy, sự giải thích của Phơ - Bách cũng như các nghiên cứu tôn giáo trước đó về nguồn gốc tâm lý tôn giáo vẫn còn thiếu căn cứ khoa học thoả đáng. Những hạn chế tỏng lĩnh vực lịch sử xã hội là nguyên nhân làm cho Phơ-bách không giải thích được căn nguyên xã hội của những hiện tượng tâm lý đó. Luận điểm sự sợ hãi sinh ra thần thánh mới chỉ được đơn thuần nêu ra như vậy, nhưng vấn đề là nguyên nhân của sự sợ hãi hay sự hạnh phúc dẫn đến tôn giáo ấy là gì lại chưa được làm rõ.

“Phơ-Bách đã không thấy rằng bản thân tình cảm tôn giáo cũng là một sản phẩm xã hội và cá nhân trừu tượng mà ông phân tích, là thuộc về một hình thức xã hội nhất định. Chủ nghĩa Mác khẳng định con người sáng tạo ra tôn giáo là con người cụ thể chứ không phải là thế giới con người trừu tượng. Trong xã hội có giai cấp, thần linh vẫn tiếp tục được sinh ra. Sức ép về đời sống vật chất và sự chật hẹp gò bó trong đời sống tinh thần đã tạo nên sức ép tâm lý cho con người. Khoa học gọi đó là hội chứng streess.

Nhìn nhận tôn giáo như một nhu cầu lâu dài và tất yếu của xã hội, chúng ta mới hiểu được cơ sở tồn tại của tôn giáo trong thời đại ngày nay và dưới chủ nghĩa xã hội. Đây cũng là phương pháp tiếp cận tôn giáo có hiệu quả nhất để nghiên cứu tôn giáo nói chung và các hiện tượng tôn giáo mới nói riêng. Tính phức tạp, đa dạng trong đời sống tâm lý con người là điều kiện quan trọng nhất cho tôn giáo tồn tại và phát triển.

Bên cạnh nguồn gốc nhận thức đã dần được khắc phục, nguồn gốc xã hội cũng thu hẹp phạm vi ảnh hưởng, nguồn gốc tâm lý của tôn giáo lại ngày càng mở rộng theo nhiều xu hướng khác nhau. Giờ đây, người ta đi lễ chùa cầu Phạt không đơn giản chỉ để cầu may, câu an bình. Đền chùa đã trở thành nơi giải thoát tâm lý tạm thời cho những người gặp trắc trở trong tình yêu hôn nhân, là nơi những người buôn một bán mười trông chờ sự thông cảm, là nơi những kẻ có nhiều bóng tối trong lương tâm đi tìm sự tha thứ… tâm lý con người càng đa dạng, càng phức tạp bao nhiêu thì hình thức biểu hiện tâm luý ấy trong tôn giáo càng muôn hình muôn vẻ bấy nhiêu.

Người ta lo chuộc tội của mình bằng mớ bòng bong các tiện nghi sinh hoạt hiện đại làm bằng giấy. Người a cũng sẵn sàng mua sắm lễ vật nào đó - dù là tốn kém để dành được phần thắng trong cuộc ganh đua vì tin rằng sự can thiệp của thần phạt sẽ nghiêng về mâm lễ vật hậu hĩnh của mình.

Xã hội rối loạn không yên, đạo đức lộn xộn, lòng người hoang mang lo sợ, đó chính là cao trào cho sự phát triển của tôn giáo vì tôn giáo mang lại cho con người một thần thánh cứu vớt chúng sinh, không chỉ phản ánh thế giới đầy đau khổ mà còn chỉ ra cho con người con đường giải thoát khỏi những đau khổ đó trong tinh thần. Người ta đi chùa cầu mong sự tha thứ của thần linh với những tội lỗi mà mình gây ra. Và tin tưởng rằng mình đã được tha thứ. Nhưng trong thực tế, có thể vì sự sinh tồn bản năng, con người vẫn tiếp tục phạm tội, rồi lại cầu xin… cái vòng luẩn quẩn lấy làm cho tâm lý con người ngày càng bất ổn, đẩy nhiều người đến với tôn giáo một cách không ý thức.

Nhưng chúng ta sẽ giải thích thế nào khi ngày nay, một bộ phận tầng lớp trí thức cũng tìm đến với tôn giáo? không thể gán cho hiện tượng này những nguyên nhân từ kinh tế, gia đình hay sự bất lực trong cuộc sống. Đối với bộ phận tri thức này, tôn giáo là nơi tốt nhất làm cân bằng cuộc sống vốn đã quá bận rộn căng thẳng của con người thời nay. Vì lẽ đó, phải chăng ngày nay chúng ta cũng không còn cười mỉa mai khi nghe được ai đó nói rằng: ở đó tôi tìm thấy sự thanh thản trong tâm hồn.

“Nếu trong trái tim con người, có một tình cảm xa lạ với tất cả số còn lại của các loài động vật, một tình cảm cứ tái sinh lại mãi dù cho vị trí của con người ở dâu, phải chăng đúng tình cảm đó là một quy luật cơ bản của bản chất con người? đó chính là tình cảm tôn giáo”. Đạt trong bối cảnh xã hội hôm nay, nghiên cứu nguồn gốc tâm lý tôn giáo là điều hết sức quan trọng và càn thiết. Bởi nguồn gốc tâm lý là cái gắn bó đời thường nhất với con người. Hay đơn giản chỉ là muốn cho người khác hài lòng, trước tiên phải biết người ta muốn gì.

Nghiên cứu ba nguồn gốc của tôn giáo, để một lần nữa khẳng định và nhấn mạnh tôn giáo là một hiện tượng xã hội có ý thức của con người và còn tồn tại lâu dài cùng xã hội loài người. Con người không thể tách khỏi tự nhiên, con người cũng không thể tự mình lớn lên tồn tại trong xã hội, con người cũng không thể tự dánh giá về mình… loài người từ buổi sơ khai đã luôn sống thành bầy đàn cùng nhau, vì thế mọi hiện tượng xã hội không thể tồn tại chỉ bởi một người.

Mọi sự vật hiện tượng chỉ tồn tại được khi con người còn tạo ra điều kiện cho sự tồn tại đó. Tôn giáo cũng thế, khi con người còn cần đến tôn giáo thì tôn giáo không thể biến mất. Nguồn gốc ra đời của tôn giáo cho ta một cái nhìn đầy đủ sâu sắc hơn về bản chất và phương thức tồn tại của tôn giáo. Có thể ngày nay vai trò của tôn giáo với con người đã khác trên các hình thức biểu hiện, nhưng đặc trưng vai trò của tôn giáo thì không bao giờ thay đổi.

Nghiên cứu xem xét nguồn gốc ra đời tôn giáo là để chúng ta không phải phê phán tôn giáo mà để biến phê phán tôn giáo thành phê phán thực tại. Tôn giáo ra đời trong lòng xã hội loài người, vì thế chẳng nên tiến hành cuộc đấu tranh chống các thánh thần một cách vô ích. Thiết nghĩ rằng, điều quan trọng nhất sau khi chúng ta nghiên cứu kỹ nguồn gốc ra đời của tôn giáo, chính là việc chúng ta hãy bắt đầu cuộc đấu tranh cải tạo xã hội hiện tại - nơi mà tôn giáo vẫn đang tồn tại phát triển với những vấn đề phức tạp trong nội bộ tôn giáo cũng như trong các vấn đề xã hội có liên quan đến tôn giáo.


CHƯƠNG 2. SỰ TỒN TẠI CỦA TÔN GIÁO TRONG THỜI ĐẠI NGÀY NAY

Đặt trong bối cảnh chung của xã hội ngày nay, tôn giáo với tính cách là một hiện tượng xã hội chắc chắn vẫn đóng vai trò như một nhu cầu thiết yếu của một bộ phận đông đảo quần chúng - tức là tôn giáo sẽ vẫn tồn tại lâu dài cùng xã hội loài người. Trước những biến động, thay đổi của thế giới theo xu hướng toàn cầu hoá, tôn giáo đã - đang và sẽ phải thay đổi theo chiều hướng phù hợp với tình hình xã hội. Con người vẫn cần đến thần thánh nhưng lại theo cách riêng của mỗi người. Trong nội bộ tôn giáo cũng đang diễn ra quá trình cải tổ với nhiều tranh cãi gay gắt, các phong trào tôn giáo mới xuất hiện làm đau đầu các tổ chức tôn giáo cũng như chính quyền các nước.

Muốn tồn tại các tôn giáo cũng đang hướng về trần thế làm cho xu hướng rthế lực hoá ngày càng rõ nét, tính thiêng của tôn giáo ngày càng bị giảm sút và con bài tôn giáo bị lợi dụng và mục đích chính trị là điều không thể tránh khỏi… đó là những vấn đề xã hội đang đặt ra cho con người từ sự tồn tại của tôn giáo trong thời đại ngày nay. Sau đây, cụ thể chúng ta sẽ xem xét từng vấn đề.

2.1. Sự cải cách trong tôn giáo.

Mắc và nhiều nhà khoa học khẳng định rằng, sau khi các cuộc cách mạng tư sản châu Âu bùng nổ, sự độc tôn tôn giáo đã kết thúc. Tôn giáo không còn được coi là đồng nghĩa với xã hội, với nhà nước mà chỉ còn là một bộ phận nằm trong nhà nước. Sự sụp đổ về vị trí độc tôn trong xã hội của các tôn giáo lớn đã gây ra cuộc khủng hoảng ngay trong chính nội bộ tổ chức ủa các tôn giáo này. Người ta đòi xem xét lại sự đúng đắn của giáo lý, sự phân chia quyền lực, phương thức hoạt động của ác tôn giáo. Sự cải cách trong tôn giáo xét đến cùng chính là sự phân chia lại quyền lãnh đạo của giai cấp thống trị. M.Luther (1483 - 1546) và sự ra đời của đạo Tin lành tách ra từ Công giáo là minh chứng rõ nét nhất cho phong trào cải cách tôn giáo gắn liền với chính trị. Đạo Tin lành thực chất là tôn giáo của giai cấp tư sản vừa mới ra đời và đang trên đà phát triển.

Chính những điều kiện mới về chính trị - xã hội, tư tưởng trong xã họi châu âu thế kỷ XV, là nguyên nhân sâu xa và ảnh hưởng quan trọng nhất đến sự cải cách lần thứ hai này của đạo Công giáo. Bên cạnh đó, những mâu thuẫn trong nội bộ tôn giáo cũng là một lý do dẫn đến phong trào cải cách tôn giáo này.

Hay như xem xét trong đạo Phật, cũng là một tôn giáo lớn trên thế giới. Đạo Phật được xem là tôn giáo của quần chúng nhân dân lao khổ. Nhưng khác với phương thức cứu rỗi của dạo Thiên Chúa là hướng con người lên với đáng tối cao, đạo Phật chủ trương đi tìm sự giải thoát ngay trong chính cuộc sống trần gian và trong lòng của mỗi người (Phật tại tâm). Vì hế, trong nội bộ của đạo Phật đã hình thành nên nhiều trường phái khác nhau, chủ yếu do sự khác nhau từ quan điểm về phương thức tu hành. Phật giáo tiểu thừa (cỗ xe nhỏ) chỉ chủ trương ăn chay niệm Phật để giải thoát cho chính mình. Còn Phật giáo đại thừa (cỗ xe lớn) là môn phái tu hành để cứu rỗi cho trăm họ. Sau khi Phật giáo bị đàn áp tại quê hương Ấn Độ, các môn phái tu hành trong Phật giáo tiếp tục phân hoá thành nhiều nhóm khác nhau.

Ngay tại Việt Nam, sự ra đời của Phật giáo, Hoà Hảo cũng là một biến thể của Phật giáo dựa vào giáo lý của tôn giáo này. Nhưng Phật giáo nhìn chung không có tổ chức thống nhất và giáo lý, lễ nghi chặt chẽ trên toàn thế giới. Chính vì thế, tại mỗi quốc gia mà Phật giáo du nhập, sự thờ cúng và ý thức tôn giáo của các tín đồ Phật giáo cũng không thuần nhất. Đó chính là lý do cơ bản dẫn đến sự hình thành các phong trào Phật giáo mới hay một đạo mới tách ra từ tôn giáo gốc là Phật giáo.

Ở Việt Nam hiện nay, cũng xuất hiện một số hiện tượng mang màu sắc của Phật giáo như đạo Long hoa di lặc ở Bắc Ninh, hay hiện tượng một số người tự lập bàn thờ một vài môn đệ của Đức Phật rồi tạo nên một tôn giáo riêng tại địa phương mình, gây ra nhiều phiền phức trong chính quyền địa phương đó. Những hiện tượng phức tạp đáng báo động này đang có xu hướng phát triển mạnh mẽ ở nhiều nơi trên thế giới và nhiều địa phương tại Việt Nam.

Tôn giáo là một hình thức ý thức xãh hội, vì thế sự quy định của tồn tại xã hội với hình thái ý thức tôn giáo là điều tất yếu. Xem xét kỹ các phong trào cải cách tôn giáo đã diễn ra trong lịch sử hay các xu hướng cải cách mới đang hình thành, ta có thể nhận thấy vai trò ảnh hưởng từ các nguyên nhân chính trị, kinh tế. Vả lại, tồn tại trong một xã hội có giai cấp, tôn giáo cũng không thể tồn tại độc lập mà phải thể hiện tư tưởng, lập trường, quan điểm của giai cấp thống trị tỏng xã hội đó.

Hình ảnh M.luther ném sắc dụ của Giáo hoàng vào lửa hay sự chia tách trong nội bộ Phật giáo, Hồi giáo là những bằng chứng cho mối liên hệ chặt chẽ giữa yếu tố chính trị với tôn giáo. Mặc dù bản thân tôn giáo tự nó không mang tính chất chính trị, nhưng tôn giáo là của con người. Vì thế, sự cải cách tôn giáo chung quy lại cũng nhằm vào mục đích của số người nào đó trong xã hội.

Sự phức tạp, suy thoái trong quan hệ đạo đức cũng đang trở thành lý do để người ta đòi xét lại giáo lý tôn giáo của mình, đòi lập lại đạo đức tôn giáo… trong một xã hội đang thay đổi phát triển đến chóng mặt như thế, con người và tôn giáo của con người cũng đang lao động. Những phong trào cải cách tôn giáo chắc chắn sẽ còn diễn ra, chỉ có điều chúng ta không thể biết được kết quả của nó sẽ như thế nào. Câu trả lời cho một vấn đề nhỏ này của tình hình tôn giáo hiện nay, con người phải tự quyết định và chờ đợi.

2.2. Sự xuất hiện của các hiện tượng, phong trào tôn giáo mới.

Trong lịch sử tôn giáo, mọi tôn giáo đều đã phát triển lên tỏng quá trình không ngừng khắc phục những mâu thuẫn nội tại của mình và sản sinh ra những mâu thuẫn mới. Trong hơn 500 năm qua, nếu chúng ta nhìn tôn giáo từ thế kỷ XV, song song với quá trình cải cách tôn giáo thì từ thập kỷ 70, xuất hiện thêm một biến thể mới của tôn giáo đó là hiện tượng phong trào tôn giáo mới ở khắp nơi trên thế giới. Sở dĩ gọi là hiện tượng, phong trào tôn giáo mới vì đây là những tổ chức tôn giáo nhỏ xuất hiện do nhiêu nguyên nhân khác nhau và có nguồn gốc từ một tôn giáo chủ lưu nào đó.

Trong “từ điển tôn giáo” của tác giả  Mai Thanh Hải, nhà xuất bản Từ điển Bách khoa đã viết “Tôn giáo mới, đạo lạ, tạp giáo xuất hiện từ thập kỷ 60 của thế kỷ XX trở lại đây. Đến năm 2001, ghi nhận khoảng hơn 20000 hiện tượng tôn giáo lạ trên thế giới… trong đó một số xuất hiện từ tôn giáo gốc như phong trào thời đại mới (New age) ở Mỹ, giáo hội Mormos, giáo hội chứng nhận của Jêhova (Jðmeins du Jðhovah), hoặc các tổ chức tôn giáo tự thân như Ngôi đền mặt trời ở Pháp, đội quân cứu rỗi ở Anh, giáo phái AUM ở Nhật, Giáo hội Moon ở Hàn Quốc… Các tôn giáo học gọi đó là các tôn giáo bồng bềnh (religions flottants), tôn giáo lờ mờ (Religions diffuse) hay tôn giáo tuỳ nghi (religions à la carte) (trang 647)”.

Và ở Việt Nam, trong 20 năm trở lại đây, các nhà nnc cũng thống kê được hơn 50 hiện tượng tôn giáo mới, trong đó chiếm đa số và phức tạp nhất là các tỉnh miền Nam - nơi pha trộn của nhiều nền văn hoá khác nhau, ở miền Bắc đáng kể nhất là đạo Long Hoa di lặc ở Bắc Ninh, đạo Sex ở Thanh Hoá… như vậy, hiện tượng tôn giáo mới đang trở thành vấn đề chung của toàn thế giới. Bởi các hiện tượng phong trào tôn giáo mới ra đời không đơn thuần mang tính chất phức tạp của các tôn giáo mà nó là sự phản ánh nhiều bất ổn trong đời sống xã hội.

Những hiện tượng tôn giáo mới nảy sinh muôn hình muôn vẻ bắt nguồn từ sự khủng hoảng niềm tin trần tục, sự bất mãn, cuồng tín phủ nhận thế giới thực tại, phủ nhận cá tôn giáo chủ lưu mà họ cho là thứ tôn giáo khô cứng với một tổ chức lỗi thời không còn phù hợp. Hầu hết các hiện tượng phong trào tôn giáo mới đều có số lượng tín đồ không lớn nhưng rất cuồng tín. Hoạt động của các tổ chức tôn giáo mới này thu hút sự tham gia rất nhiệt tình của các tín đồ và nghi thức tôn giáo của họ thường mang tính kỳ quặc pha chút ma thuật khó hiểu.

Xuất phát từ những nguyên nhân, nhu cầu tôn giáo đa dạng, mỗi hiện tượng phong trào tôn giáo mới có mục đích riêng: nhu cầu giải thoát khỏi đói nghèo, cứu vãn thế giới, khủng hoảng tâm lý… nghi thức tôn giáo là cái thể hiện tâm lý tình cảm của tín đồ tôn giáo. Hoạt động và tổ chức của các hiện tượng tôn giáo mới nhìn chung chưa gây ra những hậu quả tiêu cực trên quy mô lớn nhưng trong ph

Ghi chú: Tài liệu này được thành viên nguyenvinh đăng lên thư viện. Theo quy định điều khoản sử dụng, Thuvien24.com không chịu bất kỳ trách nhiệm nào đối với bản quyền tài liệu. Bạn tự cân nhắc trước khi tải tài liệu.
Xem bình luận
Cám ơn anh, đã tổng hợp và chia sẽ
dinhthao1703
Mình sẽ giới thiệu cho các bạn của mình về Thuvien24.com
Em vô tình biết được trang web này. Em vui lắm khi tìm được một trang web hay như vậy . Em xin cảm ơn :)
thoa0905
Thật ý nghĩa, cám ơn website
diepquynhchau
thanks bạn rất nhiều
  • Tài liệu mới
  • Tài liệu nổi bật
  • Tài liệu liên quan
  • Tài liệu cùng người đăng
Hiệu quả của hệ thống canh tác lúa SRI

Hiệu quả của hệ thống canh tác lúa SRI

Lượt down: 0

Người đăng: tranphuc

HỌC 700 TỪ VỰNG TIẾNG ANH QUA THƠ

HỌC 700 TỪ VỰNG TIẾNG ANH QUA THƠ

Lượt down: 0

Người đăng: baotram

THI CÔNG CHỨC MÔN TIN HỌC 2014

THI CÔNG CHỨC MÔN TIN HỌC 2014

Lượt down: 0

Người đăng: baotram