Quan hệ hợp tác giữa các khối nước trong diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC) với Việt Nam qua trường hợp khối Bắc Mĩ và khối ASEAN (1998 -2005)

Quan hệ hợp tác giữa các khối nước trong diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC) với Việt Nam qua trường hợp khối Bắc Mĩ và khối ASEAN (1998 -2005)

Khuyến mại Chính sách bảo hành

Thể loại: Thương mại

Cập nhật:

Kiểu file: pdf

Người đăng:

Điểm download: 200

Lượt tải: 6

để ủng hộ website nếu bạn thấy tài liệu này có giá trị, xin cám ơn!
Click
Chính sách đảm bảo Tài liệu này của thành viên thuvien24 và được Thuvien24.com đảm bảo. Xem chi tiết
 
MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Từ khoảng hai thập kỷ cuối cùng của thế kỷ XX, dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, của xu thế hoà bình, ổn định, hợp tác và phát triển cũng như của quá trình tự do hoá nền kinh tế ở các nước công nghiệp phát triển, một số nước đang phát triển, và các nước xã hội chủ nghĩa trước đây chuyển sang nền kinh tế thị trường mở cửa như các nước thuộc Liên Xô cũ, Việt Nam, Đông Âu, Trung Quốc… quá trình toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới đã được hình thành và phát triển ngày càng mạnh mẽ. Toàn cầu hoá về kinh tế đã trở thành trào lưu cuốn hút tất cả các quốc gia trên thế giới, vì vậy, hội nhập vào nền kinh tế thế giới là xu thế tất yếu mà không nước nào, dù lớn hay nhỏ có thể cuỡng lại được. Nó mang lại cơ hội nhưng cũng ẩn chứa những thách thức to lớn đối với các quốc gia, nhất là các nước đang phát triển. Do đó, vấn đề đặt ra đối với các nước là hội nhập như thế nào để lợi nhiều hơn hại, để thử thách biến thành cơ hội, Việt Nam cũng không nằm ngoài quá trình đó.
Song hành với toàn cầu hoá là xu thế khu vực hoá. Nhiều liên kết tiểu khu vực và khu vực được hình thành. Việc liên kết toàn diện với các quốc gia có cùng vị trí địa lý, trình độ phát triển kinh tế cũng như sự tương đồng về văn hoá để hình thành một “siêu nhà nước” bao gồm nhiều quốc gia như EU hay tạo dựng các khu vực mậu dịch tự do đang dần trở thành hướng đi chủ đạo của các nước trong tiến trình hội nhập. Tuy nhiên, toàn cầu hoá và khu vực hoá không phải là hai xu thế đối nghịch nhau. “Khu vực hoá được coi là một bước đệm, ở một mức độ nào đó là sự tập hợp lực lượng giữa các nền kinh tế khu vực để đối phó với những thách thức, cạnh tranh ở tầm toàn cầu” [46, tr 20]. Các nước châu Á – Thái Bình Dương cũng không nằm ngoài xu thế hợp tác đó.
Thêm vào đó, những năm cuối thập kỷ 80 và đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX, châu Á - Thái Bình Dương nổi lên là một khu vực có mức tăng trưởng kinh tế cao và phát triển năng động, nơi tập trung các nền kinh tế phát triển nhanh
nhất thế giới. Vì thế, có những dự báo lạc quan rằng thế kỷ XXI sẽ là thế kỷ châu Á – Thái Bình Dương.
Trong khi xu thế khu vực hoá phát triển ngày càng mạnh ở các khu vực khác, thì ở châu Á – Thái Bình Dương, tuy có ổn định tương đối về chính trị, năng động và có nhịp độ tăng trưởng kinh tế cao nhưng lại chưa có một hình thức liên kết nào có tính chính thức, liên chính phủ và toàn khu vực để bảo đảm lợi ích của các nước trong khu vực trước sự gia tăng ngày càng mạnh của chủ nghĩa khu vực bảo hộ ở Tây Âu và Bắc Mĩ.
Đứng trước những tình hình đó, từ nửa cuối những năm 1980, để duy trì tính năng động kinh tế của khu vực, đối phó với sự cạnh tranh quyết liệt về kinh tế trên thế giới, một số nước châu Á – Thái Bình Dương đã đi đến nhận thức chung là cần phải phối hợp và liên kết chặt chẽ với nhau trên cơ sở bảo đảm cho nền thương mại, đầu tư thông thoáng, thực hiện chủ nghĩa khu vực mở. Trong bối cảnh đó, diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (Asia-Pacific Economic Cooperation forum-APEC) được thành lập vào tháng 11 năm 1989 với mục tiêu thúc đẩy sự tăng trưởng và hợp tác kinh tế của các nền kinh tế hai bên bờ Thái Bình Dương. Cho đến nay, APEC đã có 21 nền kinh tế thành viên: Australia, Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan, Malaysia, Philippines, Singapore, Brunei, Indonesia, New Zealand, Canada, Hoa Kì (năm 1989), Trung Quốc, Hồng Công, Đài Loan (năm 1991), Mexico, Papua New Ghuine (năm 1993), Chile (năm 1994), Peru, Liên bang Nga, Việt Nam (năm 1998).
Như vậy, APEC bao gồm các quốc gia lớn nhỏ có sự khác nhau rất lớn về diện tích, dân số, chế độ chính trị, trình độ phát triển kinh tế cũng như tôn giáo. Trong APEC có hai khu vực kinh tế mạnh và năng động vào bậc nhất thế giới: khu vực Đông Á và khu vực Bắc Mĩ với những nét đặc thù vô cùng đa dạng về văn hoá, kinh tế, chính trị, xã hội. APEC thực sự là một tổ chức quốc tế đầu tiên thời kỳ sau Chiến tranh lạnh.
Hoạt động của APEC xoay quanh 3 vấn đề chính là tự do hoá thương mại và đầu tư, tạo thuận lợi cho thương mại và đầu tư, hợp tác kinh tế kỹ thuật. Nói cách khác, mục tiêu của APEC không phải là xây dựng một khối thương mại,
một liên minh quan thuế hay một khu vực mậu dịch tự do giống như EU, AFTA… mà là một diễn đàn kinh tế mở, nhằm xúc tiến các biện pháp kinh tế, thúc đẩy thương mại và đầu tư giữa các nền kinh tế thành viên trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện trong khi thực sự mở cửa đối với tất cả các nước và khu vực khác.
Là một quốc gia thuộc khu vực có mức tăng trưởng kinh tế cao, đồng thời, Việt Nam cũng là một trong những nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao trên thế giới cũng như trong khu vực. Châu Á – Thái Bình Dương có vị trí quan trọng trong quan hệ đối ngoại của Việt Nam. Các nền kinh tế thành viên APEC là các đối tác chủ yếu về kinh tế, thương mại và đầu tư “chiếm 80% kim ngạch ngoại thương của Việt Nam, 75% tổng số vốn đầu tư nước ngoài và là nguồn cung cấp ODA lớn nhất cho Việt Nam” [55, tr12]. Vì thế, việc duy trì môi trường hoà bình, ổn định và tăng cường quan hệ hợp tác cùng có lợi với các nước trong khu vực có tầm quan trọng đặc biệt, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc, thực hiện thành công mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định quan điểm: “tham gia ngày càng nhiều vào quá trình hợp tác và liên kết khu vực, liên kết quốc tế về kinh tế, thương mại và nhiều lĩnh vực hoạt động khác…" [51, tr17]. Chúng ta cũng nhận thức được rằng, Việt Nam đang trong quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và đang chủ động tăng cường tham gia vào quá trình hội nhập quốc tế. Điều đó có nghĩa là xu hướng toàn cầu hoá, khu vực hoá được xem là cơ hội cho nước ta tham gia các hoạt động hợp tác quốc tế tốt hơn, nhất là về kinh tế.
Nhận thấy tầm quan trọng của APEC đối với sự phát triển kinh tế các nước trong khu vực nói chung và của Việt Nam nói riêng, phù hợp với đường lối hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng và Nhà nước Việt Nam, ngày 15/6/1996, Chính phủ Việt Nam đã nộp đơn xin gia nhập APEC.
Ngày 14/11/1998, tại Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao- Kinh tế của APEC họp tại Malaysia, ba nước Việt Nam, Nga, Peru chính thức được kết nạp là thành viên của diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương. Việc trở thành thành viên chính thức của APEC là một bước đi sâu hơn vào con đường hội nhập
kinh tế quốc tế và khu vực, góp phần nâng cao vị thế và vai trò của Việt Nam trong quan hệ quốc tế ở khu vực và thế giới, mở rộng kinh tế đối ngoại, tận dụng các nguồn lực bên ngoài phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Đó cũng chính là góp phần thực hiện đường lối mà Đảng và nhà nước đã đề ra tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX Đảng Cộng sản Việt Nam: “chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, bảo vệ môi trường” [52,tr120]. Đại hội Đảng lần thứ X cũng đã một lần nữa xác định lại "'chính sách đối ngoại của chúng ta là độc lập, tự chủ, đa dạng hoá và đa phương hoá, tăng cường hội nhập kinh tế quốc tế" [64].
Như vậy, trước xu thế khu vực hoá cũng như toàn cầu hoá không thể cưỡng lại được, Việt Nam đã chủ động tham gia vào quá trình hội nhập nền kinh tế quốc tế và khu vực. Quan hệ giữa APEC với Việt Nam, giữa từng quốc gia, từng khối nước với Việt Nam trong khuôn khổ APEC ngày càng phát triển. Đối với khối Bắc Mĩ, bao gồm các nước Hoa Kì, Canada, Mexico mà đại diện tiêu biểu là Hoa Kì, với sự kết thúc của chiến tranh lạnh và sau khi Liên Xô sụp đổ, Hoa Kì trở thành siêu cường duy nhất trên thế giới còn lại với ưu thế vượt trội cả về kinh tế, quân sự lẫn chính trị. Quan hệ giữa Hoa Kì với các nước ở châu Á – Thái Bình Dương, nhất là với các nước như Nga, Nhật Bản, khối ASEAN… vẫn đang trong quá trình vận động và hàm chứa nhiều phức tạp. Riêng đối với Việt Nam, kể từ khi Hoa Kì bãi bỏ cấm vận và bình thường hoá quan hệ (1995), quan hệ kinh tế, thương mại và đầu tư giữa hai quốc gia có nhiều bước phát triển rất đáng kể. Hiện nay, hiệp định thương mại song phương Hoa Kìø - Việt Nam đã và đang được thực hiện, quan hệ giữa hai nước tiếp tục được cải thiện trên nhiều mặt, dù còn có những khác biệt trong nhìn nhận các vấn đề quốc tế cũng như trong quan hệ giữa hai bên.
Đối với các nước là thành viên của Hiệp hội quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), quan hệ giữa ASEAN và Việt Nam có những bước thăng trầm. Từ khi
trở thành thành viên chính thức của ASEAN, quan hệ giữa các nước ASEAN và Việt Nam đã thay đổi theo chiều hướng tích cực. Hiện nay, mô hình hợp tác ở Đông Nam Á được xem là một hình mẫu thành công trong liên kết khu vực. Trong khuôn khổ APEC, quan hệ giữa các nước thuộc khối ASEAN và Việt Nam cũng có những điểm khác biệt so với quan hệ giữa các khối khác trong APEC với Việt Nam.
Với những lý do trên, việc tìm hiểu về mối quan hệ hợp tác giữa các khối nước trong APEC với Việt Nam qua trường hợp khối Bắc Mĩ và khối ASEAN, giai đoạn từ 1998, tức là từ khi Việt Nam gia nhập diễn đàn này cho đến năm 2005 có ý nghĩa vô cùng thiết thực. Nghiên cứu vấn đề này qua trường hợp khối Bắc Mĩ và khối ASEAN, bao gồm những nước có nền kinh tế phát triển vào bậc nhất thế giới với những nước đang phát triển sẽ cho chúng ta một cái nhìn khá bao quát về quan hệ giữa Việt Nam với khối nước trên, cũng như thấy được những mặt tích cực và hạn chế của Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế. Nghiên cứu vấn đề này cũng góp phần cho chúng ta thấy được đường lối, chính sách của Đảng trong quá trình hội nhập quốc tế.
Việc nghiên cứu tổng quát về quá trình hội nhập nền kinh tế toàn cầu của các nước trên thế giới nói chung, Việt Nam nói riêng giúp hiểu rõ hơn quan hệ kinh tế giữa Việt Nam với khối Bắc Mĩ và các nước trong khối ASEAN trong khuôn khổ APEC. Việc làm này cũng giúp chúng ta thấy được những bài học kinh nghiệm của một số nước bước đầu thành công trong quá trình tham gia vào quá trình toàn cầu hoá như Trung Quốc… Từ đó, chúng ta có thể rút ra được những bài học kinh nghiệm cho đất nước trong hội nhập quốc tế.
Tìm hiểu quan hệ hợp tác giữa các khối nước trong APEC với Việt Nam từ 1998 đến 2005, qua trường hợp khối Bắc Mĩ và khối ASEAN cũng giúp chúng ta thấy được sự phát triển năng động của nền kinh tế thế giới và khu vực. Qua đó, chúng ta thấy được chính sách kinh tế của các nước lớn, của các khối nước trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương đối với Việt Nam, từ đó, rút ra được những kinh nghiệm quý báu trong đường lối đối ngoại của quốc gia.
Hơn tất cả, việc nghiên cứu đề tài này còn có ý nghĩa thực tiễn và khoa học sâu sắc đối với công cuộc xây dựng và phát triển đất nước hiện nay. Thêm vào đó, việc nghiên cứu và thực hiện đề tài có ý nghĩa thiết thực và hữu ích đối với bản thân. Nó góp phần giúp chúng tôi nhận thức sâu sắc hơn chính sách đối ngoại, đường lối phát triển kinh tế của Việt Nam trong tiến trình hội nhập. Những kiến thức này rất có giá trị trong việc phục vụ công tác giảng dạy sau này.
Với những ý nghĩa trên, chúng tôi chọn vấn đề “Quan hệ hợp tác giữa các khối nước trong diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC) với Việt Nam qua trường hợp khối Bắc Mĩ và khối ASEAN (1998 -2005)” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp cao học của mình.
2. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
Cho đến nay, hầu như chưa có một tác phẩm nào nghiên cứu toàn diện về quan hệ hợp tác giữa các khối nước trong diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương với Việt Nam. Có thể nói đây là một đề tài khá mới mẻ. Tuy nhiên, chúng tôi xin giới thiệu một số công trình tiêu biểu, ít nhiều có đề cập đến một số nội dung liên quan đến đề tài. Trước hết chúng tôi xin giới thiệu những tác phẩm có liên quan đến đề tài ở việc cung cấp những kiến thức khái quát, sau đó là những tác phẩm đi vào từng lĩnh vực, từng nội dung cụ thể, mà không trình bày theo trình tự thời gian sách được xuất bản.
Có lẽ là thiếu sót khi nghiên cứu về quan hệ kinh tế của Việt Nam mà không tìm hiểu qua tác phẩm Năm mươi năm ngoại giao Việt Nam (1945 -1995) (tập 2) của tác giả Lưu Văn Lợi. Trong công trình này, tác giả đã bao quát nửa thế kỷ lịch sử ngoại giao của Việt Nam. Tác giả dành 95 trang để nói về quá trình Việt Nam hội nhập khu vực, tiến trình bình thường hoá quan hệ Việt Nam – Hoa Kì, Việt Nam lập quan hệ với các nước EU, Nga… cũng như quá trình nước ta hội nhập châu Á – Thái Bình Dương. Đây là những kiến thức tổng quát rất bổ ích đối với những ai nghiên cứu về đường lối đối ngoại của nước ta. Qua tác phẩm, chúng ta thấy được chủ trương của Đảng và nhà nước Việt Nam “luôn
luôn mong muốn có quan hệ hữu nghị và hợp tác trên cơ sở các nguyên tắc cùng tồn tại hoà bình” [18,tr250]. Tác giả cũng cho chúng ta thấy được việc bình thường hoá quan hệ giữa Hoa Kì và Việt Nam không chỉ là vấn đề riêng của hai nước. Đây là một nhân tố quan trọng có tác dụng giữ cân bằng lực lượng và duy trì ổn định trong khu vực Đông Nam Á. Việt Nam quyết cùng các nước khác gắng hết sức mình vì Đông Nam Á hoà bình, ổn định và phát triển, vì khu vực châu Á – Thái Bình Dương phồn vinh. Tuy nhiên, do thời gian giới hạn từ 1945 – 1995, cho nên, tác giả chỉ nêu được những nét khái quát về quá trình Việt Nam hội nhập khu vực, cũng như tiến trình bình thường hoá quan hệ Việt Nam – Hoa Kì, mà không có những nghiên cứu sâu về quan hệ kinh tế giữa Việt Nam với các nước trên.
Năm 2003, nhà xuất bản Chính trị quốc gia Hà Nội đã xuất bản quyển Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC). Các nhà ngiên cứu đã cung cấp cho bạn đọc những hiểu biết cơ bản về quá trình hình thành, phát triển cũng như những mục tiêu, nguyên tắc hoạt động của APEC. Tác phẩm nêu ra những mục tiêu hoạt động của APEC là tự do hoá thương mại và đầu tư, thuận lợi hoá thương mại APEC, hợp tác kinh tế kỹ thuật (ECOTECH). Đây là một tài liệu hữu ích, vì nó đã cung cấp những kiến thức khái quát, đầy đủ về diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương. Đặc biệt, sách cũng dành chương VI để giới thiệu về sự tham gia của Việt Nam vào APEC trong thời gian qua. Các tác giả cũng vạch ra triển vọng quan hệ hợp tác của Việt Nam trong APEC thời gian tới. Tuy vậy, như đã nói ở trên, do là tác phẩm cung cấp những kiến thức khái quát về APEC, cho nên, vấn đề quan hệ kinh tế giữa APEC với Việt Nam, giữa các quốc gia hay các khu vực cụ thể không được đề cập đến.
Trong quyển APEC – những thách thức và cơ hội do nhà xuất bản Chính trị quốc gia Hà Nội xuất bản năm 1997, các tác giả thuộc viện nghiên cứu Đông Nam Á - Singapore đã đề cập đến nhiều vấn đề về lý luận cũng như những số liệu thực tế về quan hệ kinh tế của các nước lớn trong khối, đồng thời, các tác giả cũng cho chúng ta thấy được động thái của các nước lớn, các khối nước (như ASEAN, trong đó có Việt Nam), trong tiến trình hội nhập quốc tế.
Cho đến nay, hầu như chưa có công trình nào nghiên cứu đầy đủ về quan hệ kinh tế giữa khối Bắc Mĩ với Việt Nam. Đa phần các tác phẩm đều đề cập nhiều đến quan hệ kinh tế giữa Hoa Kì với Việt Nam. Trong phạm vi nguồn tài liệu có hạn, chúng tôi cũng chỉ xin giới thiệu về những công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài, với Hoa Kì là một đại diện tiêu biểu của khối Bắc Mĩ gồm ba nước Hoa Kì, Canada, Mexico.
Năm 2001, nhà xuất bản Thống kê xuất bản quyển Tìm hiểu về Hiệp định giữa Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Hợp chủng quốc Hoa Kỳ về quan hệ thương mại. Sách gồm 7 chương: thương mại hàng hoá, quyền sở hữu trí tuệ, thương mại dịch vụ, phát triển quan hệ đầu tư, tạo thuận lợi cho kinh doanh, các qui định liên quan đến tính minh bạch, công khai và quyền khiếu kiện, những điều kiện chung cùng những phần phụ lục. Trong mỗi chương, sách nêu lên những qui chế, những định nghiã, nghĩa vụ , quyền lợi… của hai bên tham gia vào hiệp định. Có thể nói, đây là một văn kiện có tính pháp lý, giúp người đọc có những hiểu biết đúng đắn, chính xác về quan hệ thương mại giữa hai nước.
Công trình nghiên cứu về Quan hệ thương mại và đầu tư giữa Việt Nam – Hoa Kỳ của tác giả Nguyễn Thiết Sơn do nhà xuất bản Khoa học xã hội Hà Nội xuất bản năm 2004, cũng đã cung cấp nhiều tài liệu bổ ích cho đề tài. Sách trình bày một cách khái quát, có hệ thống tiến trình bình thường hoá quan hệ kinh tế Việt Nam và Hoa Kì, những kết quả đạt được trong thương mại đầu tư giữa hai nước và những vấn đề, những khó khăn mà Việt Nam bước đầu gặp phải cũng như triển vọng quan hệ kinh tế giữa hai nước. Đặc biệt, tác giả đã cung cấp một hệ thống bảng số liệu về quan hệ thương mại Việt Nam – Hoa Kì từ năm 1992 – 2001. Đây là những số liệu đáng tin cậy, giúp chúng tôi có cơ sở để phân tích những kết quả đạt được trong quan hệ thương mại giữa hai nước.
Trong cuốn Quan hệ kinh tế của Hoa Kì và Nhật Bản với Việt Nam từ 1995 đến nay của Bộ ngoại giao và Học viện quan hệ quốc tế cũng đề cập đến quan hệ kinh tế giữa Hoa Kì với Việt Nam. Tuy nhiên, do thời gian giới hạn từ
1995 – 2001 cho nên, quan hệ kinh tế cũng như những triển vọng trong quan hệ giữa hai nước thời gian sau đó không được các tác giả đề cập đến.
Năm 2000, tác giả Đỗ Đức Định đã có tác phẩm nghiên cứu về Quan hệ kinh tế Việt Nam – Hoa Kìø do nhà xuất bản Thế giới, Hà Nội phát hành. Sách nêu lên tiến trình bình thường hoá quan hệ giữa hai nước, đồng thời tác giả dành chương V để nêu lên những lĩnh vực hợp tác giữa Hoa Kì và Việt Nam, nhất là trong lĩnh vực kinh tế. Tuy nhiên, các tác giả chỉ chú trọng đến quan hệ đầu tư giữa hai nước, mà ít nêu lên những mối quan hệ thương mại…
Ngoài ra, có rất nhiều công trình nghiên cứu về chính sách kinh tế cũng như quan hệ của Hoa Kì với một số nước trên thế giới. Trong đó, đáng kể đến là tác phẩm Quan hệ của Hoa Kì với các nước lớn ở khu vực châu Á– Thái Bình Dương do tiến sĩ Vũ Dương Huân chủ biên. Nội dung sách trình bày về tình hình khu vực châu Á – Thái Bình Dương thời kỳ sau chiến tranh lạnh và mối quan hệ giữa Hoa Kì với các cường quốc trong khu vực. Sách góp phần đánh giá về quan hệ của các nước lớn hiện nay và xu thế phát triển trong quan hệ giữa các nước lớn trong tương lai. Tuy không đề cập đến quan hệ kinh tế cũng như chính sách của Hoa Kì đối với Việt Nam, nhưng các tác giả cho chúng ta cái nhìn khái quát về quan hệ giữa các nước lớn trong khu vực, từ đó, chúng ta có thể áp dụng và rút kinh nghiệm đối với thực tiễn đất nước trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Với phạm vi giới hạn, TS Lê Khương Thuỳ (thuộc trung tâm nghiên cứu Bắc Mĩ) đã cho chúng ta biết được Chính sách của Hoa Kìø đối với ASEAN thời kỳ trong và sau chiến tranh lạnh trong tác phẩm cùng tên. Tác giả đã đi sâu nghiên cứu một cách có hệ thống sự phát triển chính sách của Hoa Kì đối với ASEAN thời kỳ trước và sau chiến tranh lạnh. Chiến lược và chính sách của Hoa Kì đối với ASEAN có ảnh hưởng trực tiếp đến các nước thuộc khu vực Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam. Việc tìm hiểu chính sách của Hoa Kì đối với ASEAN dưới góc độ lịch sử có ý nghĩa thực tiễn đối với nước ta trong việc hoạch định chính sách đối ngoại với Hoa Kì trên tất cả các lĩnh vực”
Quyển Mỹ điều chỉnh chính sách kinh tế do Nguyễn Thiết Sơn chủ biên, xuất bản năm 2003, cũng rất hữu ích đối với chúng tôi khi thực hiện đề tài. Nội dung cuốn sách trình bày trực tiếp những chính sách kinh tế và điều chỉnh chính sách kinh tế cơ bản của Hoa Kì trong những năm 90 và định hướng chính sách những năm đầu thế kỷ XXI. Đây là khoảng thời gian mà những thay đổi chính sách của Hoa Kì có tác động rất lớn đến quan hệ giữa Hoa Kì và Việt Nam. Cũng chính trong thời gian này, dươi nhiệm kỳ của tổng thống Bill Clinton, việc bình thường hóa quan hệ Việt Nam – Hoa Kì đã được thực hiện, quan hệ giữa hai nước ngày càng phát triển cao hơn khi hiệp định thương mại song phương được kí kết.
Trước đó, năm 1996, tác giả Nguyễn Xuân Thắng thuộc trung tâm nghiên cứu châu Á – Thái Bình Dương giới thiệu đến bạn đọc quyển Việt Nam và các nước châu Á – Thái Bình Dương – các quan hệ kinh tế hiện nay và triển vọng. Như tựa đề, sách đề cập đến quan hệ kinh tế của Việt Nam với một số nước thuộc khối APEC như Hoa Kì, Nhật Bản… Đồng thời tác giả cũng cho chúng ta thấy được vai trò, vị trí quan trọng của các nước châu Á – Thái Bình Dương trong chính sách kinh tế đối ngoại của Việt Nam và một số vấn đề cần giải quyết. Tuy nhiên, triển vọng trong quan hệ giữa Việt Nam với các nước lớn trong APEC chưa được tác giả đi sâu phân tích.
Nghiên cứu quan hệ kinh tế giữa các nước thuộc khối ASEAN và Việt Nam được rất nhiều tác giả quan tâm. Trong khuôn khổ có hạn của luận văn, chúng tôi chỉ xin đề cập đến các tác phẩm tiêu biểu sau:
Năm 1996, trường Đại học tổng hợp TP.HCM xuất bản quyển ASEAN, quá trình phát triển và hoạt động do tác giả Nguyễn Văn Lịch viết. Như tựa đề, sách cung cấp cho người đọc những kiến thức khái quát về quá trình phát triển và hoạt động của khối ASEAN, cũng như quan hệ ASEAN - Việt Nam từ 1967 đến thời điểm sách được xuất bản.
Năm 1997, Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội đã tổ chức hội thảo quốc tế với chủ đề: "ASEAN hôm nay và ngày mai" nhân dịp ASEAN
tròn 30 tuổi. Hội thảo đã thu hút nhiều nhà nghiên cứu tham gia. Kỷ yếu hội thảo gồm 2 tập. Tập 1 có chủ đề "ASEAN hôm nay và triển vọng trong thế kỷ XXI", chủ đề của tập 2 là "ASEAN và Việt Nam". Kỷ yếu bao gồm nhiều bài viết liên quan đến chủ đề của hội thảo của nhiều tác giả trong và ngoài nước, là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích khi chúng tôi thực hiện đề tài.
Năm 1998, Nhà xuất bản Tài chính xuất bản quyển Quan hệ thương mại - đầu tư giữa Việt Nam và các nước thành viên ASEAN, do Võ Thanh Thu chủ biên. Qua tác phẩm, các tác giả cho chúng ta thấy được mối quan hệ thương mại và đầu tư giữa các nước thành viên ASEAN, và những bài học thu hút vốn đầu tư của các nước ASEAN đối với Việt Nam. Sách còn cung cấp cho người đọc những bảng số liệu về trao đổi thương mại và đầu tư của các nước ASEAN vào Việt Nam. Đây là những số liệu đáng tin cậy, giúp ích rất nhiều trong quá trình chúng tôi thực hiện luận văn.
Năm 2001, các tác giả thuộc bộ môn Lịch sử thế giới-Khoa Lịch sử-Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP.HCM đã thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ với chủ đề Quan hệ Việt Nam - ASEAN và những bài học kinh nghiệm, do Lê Văn Quang làm chủ biên. Đây là công ttrình nghiên cứu công phu của những nhà sử học có tâm huyết với nghề. Sách nghiên cứu về quan hệ giữa Việt Nam - ASEAN từ khi khối này thành lập cho đến năm 2000 và những bài học kinh nghiệm rút ra từ mối quan hệ đó. Tuy nhiên, do thời gian giới hạn ở năm 2000, cho nên quan hệ giữa ASEAN và Việt Nam giai đoạn sau chưa được các tác giả đề cập đến.
Một tác phẩm khác có ý nghĩa đối với những ai nghiên cứu về quan hệ kinh tế của Việt Nam đối với các nước khác: Những vấn đề kinh tế Việt Nam – Thử thách của hội nhập do Phạm Đỗ Chí, Trần Nam Bình, Vũ Quang Việt chủ biên, được xuất bản vào năm 2002. Sách tập hợp nhiều bài viết của nhiều tác giả thuộc các cơ quan kinh tế, các trường đại học, các viện nghiên cứu trong và ngoài nước, trong đó, tác giả Vũ Quang Việt hiện là chuyên viên cấp cao của Liên hiệp quốc từ 1984, là nhóm trưởng nhóm nghiên cứu về phương pháp luận
thống kê kinh tế quốc gia của Liên hiệp quốc. Nội dung của sách có 4 phần với những chủ đề khác nhau.
Các tác giả giúp chúng ta có cái nhìn khái quát về bối cảnh quốc tế khi Việt Nam tham gia hội nhập kinh tế quốc tế và những bài học kinh nghiệm rút ra từ một số nước bước đầu thành công trong quá trình toàn cầu hoá. Nó còn cung cấp những vấn đề lý luận cũng như những số liệu thực tế trong quan hệ giữa Việt Nam với một số nước.
Nhìn chung, có nhiều công trình nghiên cứu về quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và các nước ASEAN, giữa Hoa Kì và Việt Nam, hoặc chính sách kinh tế của Hoa Kì, cũng như những chính sách của Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế. Tuy nhiên, đa số các sách chỉ nghiên cứu một khía cạnh trong quan hệ kinh tế song phương, hoặc quan hệ thương mại, hoặc đầu tư, ít chú trọng đến việc nghiên cứu quan hệ hợp tác giữa các khối nước trong APEC với Việt Nam. Thêm vào đó, thời gian mà các tác phẩm, tác giả đề cập đến chủ yếu trong phạm vi từ những năm 90 của thế kỷ XX đến khoảng năm 2001. Trong khi đó, lịch sử mỗi ngày một thay đổi và có rất nhiều biến động, quan hệ hợp tác giữa các khối nước trong APEC với Việt Nam trong khoảng thời gian từ 2001 – 2005 có nhiều diễn tiến mới chưa được các tác giả quan tâm nghiên cứu. Vì vậy, việc tìm hiểu toàn diện quan hệ hợp tác giữa các khối nước trong APEC với Việt Nam qua trường hợp khối Bắc Mĩ và các nước thuộc khối ASEAN là vô cùng cần thiết.
Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi cũng thu được nguồn tài liệu khá phong phú từ các bài viết của nhiều nhà nghiên cứu về các vấn đề liên quan đến đề tài in rải rác trên các báo, tạp chí...
Ngoài các nguồn tư liệu sách, báo, tạp chí… khi nghiên cứu về vấn đề này, chúng tôi cũng thu thập được nhiều thông tin từ các trang web của APEC, AFTA, ASEAN, trang tin điện tử của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trang Web của Bộ Ngoại giao Việt Nam… trên mạng internet. Đây cũng là những tư liệu vô cùng quý báu và có tính cập nhật cao khi thực hiện đề tài.
Về quan hệ hợp tác giữa hai thành viên còn lại của khối Bắc Mĩ là Canada và Mexico với Việt Nam trong khuôn khổ APEC, hầu như có rất ít tác phẩm đề cập đến. Với rất nhiều nỗ lực trong việc tìm tư liệu khi thực hiện đề tài, chúng tôi cũng chỉ tìm được một số bài báo in rải rác trên các báo, và nguồn thông tin tư liệu từ Thông tấn xã có đề cập đến quan hệ hợp tác giữa Canada, Mexico với Việt Nam. Từ nguồn tài liệu ít ỏi này, chúng tôi sẽ cố gắng rút ra những kết luận, những triển vọng trong quan hệ kinh tế giữa hai nước.
3. GIỚI HẠN ĐỀ TÀI
Trên cơ sở kế thừa các công trình của các nhà nghiên cứu đi trước, chúng tôi cố gắng làm rõ mối quan hệ hợp tác giữa các khối nước trong APEC với Việt Nam qua trường hợp khối Bắc Mĩ và khối ASEAN. Khi nghiên cứu về quan hệ hợp tác giữa khối Bắc Mĩ và khối ASEAN với Việt Nam trong khuôn khổ APEC, chúng tôi chú trọng đến việc phân tích, đánh giá mối quan hệ kinh tế giữa hai khối nước này với Việt Nam. Trên cơ sở phân tích, đánh giá những thành tựu đạt được và những mặt chưa được trong quan hệ kinh tế cũng như trên các lĩnh vực khác giữa khối Bắc Mĩ, khối ASEAN với Việt Nam trong khuôn khổ APEC để có cái nhìn tổng quát về quan hệ giữa APEC và Việt Nam trong lĩnh vực này.
Việc lựa chọn nghiên cứu quan hệ kinh tế giữa khối Bắc Mĩ và ASEAN với Việt Nam, vì đó là đại biểu cho hai khối nước phát triển và đang phát triển, từ đó có cái nhìn toàn diện, đa chiều trong mối quan hệ kinh tế của các nhóm nước với Việt Nam, cho phép chúng ta rút ra tính quy luật trong quan hệ kinh tế giữa các nước và các khối nước trong APEC. Trong quan hệ kinh tế, chúng tôi đặc biệt chú trọng đến quan hệ thương mại và đầu tư, vì đây là những nội dung chủ yếu trong chương trình hành động của APEC.
Ở đây, khi nói đến khối ASEAN, chúng tôi chỉ đề cập đến 6 nước thành viên ASEAN, đồng thời là những nước đang phát triển, tham gia vào tổ chức APEC. Đó là Brunei, Singapore, Philippines, Indonesia, Malaysia, Thái Lan.
Ngoài khối ASEAN, không gian nghiên cứu vấn đề còn giới hạn ở khối Bắc Mĩ, trong đó, Hoa Kì là một đối tác quan trọng của nước ta, cho nên, chúng tôi cũng xin giới thiệu thêm về tiến trình bình thường hóa quan hệ kinh tế giữa Việt
Nam và Hoa Kì từ năm 1995. Đây cũng là khoảng thời gian mà Hiệp định thương mại Hoa Kì - Việt Nam được kí kết (11/1997), đánh dấu bước tiến mới trong quan hệ giữa hai nước, đồng thời mở ra cho Việt Nam những thử thách và cơ hội mới trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, đối ngoại… với Hoa Kì nói riêng, với các nước trên thế giới nói chung.
Khối APEC ra đời từ năm 1989, nhưng đến năm 1998 Việt Nam mới chính thức được kết nạp vào tổ chức này. Vì vậy, chúng tôi tập trung nghiên cứu mối quan hệ hợp tác giữa APEC và Việt Nam qua trường hợp khối Bắc Mĩ và khối ASEAN kể từ khi Việt Nam gia nhập đến năm 2005. Đây là khoảng thời gian nước ta có nhiều nỗ lực để hội nhập nền kinh tế quốc tế và đạt được những thành tựu quan trọng. Đồng thời, đây cũng là khoảng thời gian Việt Nam chuẩn bị nhiều mặt để đăng cai hội nghị cấp cao APEC vào năm 2006.
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi sử dụng phương pháp nghiên cứu chuyên ngành là phương pháp lịch sử và phương pháp logic.
Phương pháp lịch sử giúp chúng tôi tái hiện lại tiến trình quan hệ hợp tác giữa APEC và Việt Nam qua trường hợp khối Bắc Mĩ và khối ASEAN trong khoảng thời gian từ 1998 đến năm 2005 trong bối cảnh quốc tế và khu vực có nhiều biến động. Việc nghiên cứu quan hệ hợp tác giữa các nước trong khối Bắc Mĩ và khối ASEAN với Việt Nam trong khuôn khổ APEC cho chúng tôi có cái nhìn khái quát về quan hệ giữa tổ chức này với Việt Nam.
Phương pháp logic giúp chúng tôi lí giải những vấn đề phức tạp trong quan hệ kinh tế giữa APEC và Việt Nam qua trường hợp khối Bắc Mĩ và khối ASEAN. Việc làm này giúp chúng tôi rút ra được những nét bản chất, những đặc điểm có tính quy luật trong quan hệ giữa APEC và Việt Nam.
Ngoài ra, chúng tôi cũng sử dụng phương pháp liên ngành như phương pháp nghiên cứu quan hệ quốc tế, phương pháp nghiên cứu kinh tế, phương pháp thống kê, xử lý số liệu thu thập được nhằm đưa ra những kết luận chính xác về
những thành tựu đạt được trong quan hệ giữa khối Bắc Mĩ và Việt Nam trong khuôn khổ APEC ở lĩnh vực kinh tế.
5. BỐ CỤC LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, nội dung chính của luận văn chia thành 4 chương:
Chương 1: Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương với Việt Nam
1.1. Quá trình ra đời và các giai đoạn phát triển của APEC
1.2. Hoạt động của Việt Nam trong APEC
Chương 2: Quan hệ hợp tác giữa APEC với Việt Nam qua trường hợp khối ASEAN (1998 – 2005)
2.1. Khối ASEAN với Việt Nam
2.2. Quan hệ hợp tác kinh tế ASEAN – Việt Nam trong khuôn khổ APEC (1998-2005)
2.3. Các quan hệ khác
Chương 3: Quan hệ hợp tác giữa APEC với Việt Nam qua trường hợp khối Bắc Mĩ (1998-2005)
3.1. Khái quát về khối Bắc Mĩ
3.2. Quan hệ hợp tác giữa Hoa Kì với Việt Nam trong khuôn khổ APEC (1998-2005)
3.3. Quan hệ hợp tác Canada – Việt Nam trong khuôn khổ APEC (1998-2005) .........................................................................................................................
3.4. Quan hệ hợp tác Mexico – Việt Nam trong khuôn khổ APEC (1998-2005)
Chương 4: Đặc điểm, bài học kinh nghiệm, những cơ hội và thách thức trong quan hệ hợp tác giữa APEC với VIỆT NAM qua trường hợp khối Bắc Mĩ và khối ASEAN
4.1. Những đặc điểm của quan hệ hợp tác kinh tế giữa khối Bắc Mĩ, ASEAN trong APEC với Việt Nam
4.2. Bài học kinh nghiệm
4.3. Những cơ hội và thách thức trong quan hệ hợp tác giữa khối Bắc Mĩ và khối ASEAN với Việt Nam trong khuôn khổ APEC
4.4. Triển vọng quan hệ hợp tác APEC – Việt Nam qua trường hợp khối Bắc Mĩ và khối ASEAN
4.5. Những kiến nghị, giải pháp

Ghi chú: Tài liệu này được thành viên thuvien24 đăng lên thư viện. Theo quy định điều khoản sử dụng, Thuvien24.com không chịu bất kỳ trách nhiệm nào đối với bản quyền tài liệu. Bạn tự cân nhắc trước khi tải tài liệu.
Xem bình luận
thuynguyenhlu8118
Oh my god, tìm mãi mới thấy. Thanks
nnthieu20
mong rằng bạn sẽ có nhiều bài hay như thế này nữa
thanks!!!!!!!!!!! happy lucky day!
diepquynhchau
thanks bạn rất nhiều
phuc122133
Rất rất cám ơn
  • Tài liệu mới
  • Tài liệu nổi bật
  • Tài liệu liên quan
  • Tài liệu cùng người đăng