So sánh giữa triết học Phương Đông cổ đại và Hy Lạp cổ đại

So sánh giữa triết học Phương Đông cổ đại và Hy Lạp cổ đại

Khuyến mại Chính sách bảo hành

Thể loại: Khoa học, xã hội

Cập nhật:

Kiểu file: doc

Người đăng:

Điểm download: 100

Lượt tải: 6

để ủng hộ website nếu bạn thấy tài liệu này có giá trị, xin cám ơn!
Click
Chính sách đảm bảo Tài liệu này của thành viên baotram và được Thuvien24.com đảm bảo. Xem chi tiết

 

Sự hình thành ra đời của triết học Phương Đông và Phương Tây cổ đại có những hoàn cảnh lịch sử khác nhau do điều kiện vị trí địa lý của hai châu lục. Ở Phương Đông thìđược thiên nhiên ưu đãi hơn còn ở Phương Tây khí hậu khắc nghiệt hơn con người phải chống trọi lại với thiên nhiên nên trong thế giới quan nhận thức có sự khác nhau và từ đó cũng hình thành các nền triết học khác nhau nhưng tóm lại triết học Phương Đông và Phương Tây đều nhằm giải quyết vấn đề cơ bản của triết học. Triết học Phương Đông đặt trọng tâm vào việc giải quyết mặt thứ hai của vấn đề cơ bản của triết học. Mặt thứ nhất của vấn đề cơ bản tuy cũng được đề cập đến nhưng chỉ coi nó như vấn đề có liên quan, có tác dụng giải thích và bổ sung cho mặt thứ hai. Buổi bình minh của nhân loại nhận thức về khoa học còn nhiều hạn chế nhưng các nhà triết học cổ đại của cả Phương Đông và Phương Tây đã cho chúng ta những học thuyết, những quan điểm vô cùng quý báu nó là nền tảng cho sự phát triển của các ngành khoa học nói chung và triết học nói riêng.
 
I. LỊCH SỬ TRIẾT HỌC PHƯƠNG ĐÔNG CỔ ĐẠI; LỊCH SỬ TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI - SỰ GIỐNG VÀ KHÁC NHAU GIỮA CHÚNG
1. Lịch sử triết học Phương Đông cổ đại
a. Triết học ấn Độ cổ đại - Lịch sử hình thành và phát triển
b. Điều kiện lịch sử ra đời và phát triển, các đặc điểm cơ bản của triết học Trung Hoa cổ đại.
II. ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN, CÁC ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI
1. Điều kiện lịch sử ra đời và phát triển triết học Hy Lạp cổ đại
2. Những đặc điểm cơ bản của Triết học Hy Lạp cổ đại
III. SO SÁNH TRIẾT HỌC PHƯƠNG ĐÔNG CỔ ĐẠI VÀ HY LẠP CỔ ĐẠI
KẾT LUẬN
 

I. LỊCH SỬ TRIẾT HỌC PHƯƠNG ĐÔNG CỔ ĐẠI; LỊCH SỬ TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI - SỰ GIỐNG VÀ KHÁC NHAU GIỮACHÚNG

Lịch sử triết học là môn học mang lại cho người học những hiểu biết mang tính hệ thống về quá trình hình thành và phát triển tư duy Triết học- cơ sở của tư duy lý luận nhân loại. Qua đó, làm phong phúđời sống tinh thần và nâng cao năng lực sử dụng tư duy vào việc giải quyết các vấn đề do nhận thức khoa học và thực tiễn cuộc sống đặt ra. Những học thuyết triết học đầu tiên trong lịch sử xuất hiện vào khoảng thế kỷ VIII- VI (Tr CN) ởấn Độ cổđại, Trung Quốc cổđại, Hy Lạp và La Mã cổđại vàở một số nước khác.

1. Lịch sử triết học Phương Đông cổ đại.

Lịch sử các nền văn minh nhân loại đã cho thấy, thời điểm bắt đầu của Triết học Phương Đông có thể vào khoảng 3000 năm TCN. Trên 3 vùng đất rộng lớn với nhiều dân tộc khác nhau là vùng Trung cận đông, vùng ấn Độ và vùng Trung Quốc. Vùng Trung Cận Đông cách đây 5000 năm đã phát sinh nhiều nền văn minh rực rỡ, tiến bộ nhất lúc bấy giờ. Khoảng trên 300 năm TCN, những thành tựu về Triết học của vùng trung cận đông đã bị chia thành 2 ngả, ngả thứ nhất gia nhập vào văn minh Ba Tư, ngả thứ hai gia nhập vào văn minh Hy Lạp. Phần còn lại bị lãng quên và hoàn toàn không cóđiều kiện nảy sinh trước sự bành trướng, thống trị tuyệt đối của đạo Do Thái và sau nữa làđạo Hồi. Do đó, Triết học Phương Đông từ thời cổđại đến nay chỉ còn nổi bật hai nền Triết học lớn- đó là nền Triết học ấn Độ và nền Triết học Trung Quốc. Hai nền triết học này phát triển rực rỡ vào cuối thời kỳ cổđại vàđầu thời kỳ phong kiến.

a. Triết học ấn Độ cổ đại - Lịch sử hình thành và phát triển

Ấn Độ là một đất nước rộng lớn thuộc bán đảo Nam á bao gồm cả nước Pakixtan, Bănglađét và NêPan ngày nay. Khắp vùng từĐông Bắc và Tây Bắc của ấn Độ cổđại núi non trùng điệp với dãy Himalaya nổi tiếng kéo dài 2.600 km. Dãy núi Vinđya phân chia ấn Độ thành 2 miền Nam và Bắc. Miền Bắc cóhai con sông lớn là sông ấn ở phía Tây và sông Hằng ở phía Đông, chúng tạo nên hai đồng bằng màu mỡ- cái nôi của nền văn minh cổấn Độ. Trước khi đổ ra biển, sông ấn chia làm 5 nhánh và biến lưu vực của mình thành đồng bằng Pungiáp. Đối với người ấn Độ, sông Hằng là dòng sông linh thiêng có thành phố Varanadi bên bờ, nơi đây từ ngàn xưa, người ấn Độ cư hành lễ tắm truyền thống mang tính chất tôn giáo,... Cư dân ấn Độ rất đa dạng và phức tạp với nhiều bộ tộc khác nhau, nhưng về chủng tộc, có hai loại chính là người Đravida cư trú chủ yếu ở miền Nam và người Arya chủ yếu sống ở miền Bắc. Từ trong nền văn minh sông ấn của người bản địa Đraviđa xa xưa, Nhà nước ấn Độ cổđại đã xuất hiện, các ngành nghề nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp đã hình thành. Tuy nhiên, đến đầu thế kỷ XIII TCN, thiên tai (lũ lụt trên sông ấn) đã làm cho nền văn minh này sụp đổ. Voà khoảng thế kỷ XV TCN, các bộ lạc du mục Arya ở Trung á xâm nhập vào ấn Độ. Họđịnh canh, định cư và tiến hành quá trình nô dịch, đồng hoá, hỗn chủng với các bộ lạc bản địa Đraviđa. KInh tế tiểu nông kết hợp với thủ công nghiệp gia đình mang tính tự cung, tự cấp lấy gia đình, gia tộc của người Arya làm cơ sở, đã tạo nền tảng vững chắc cho các công xã nông thôn ra đời và sớm được khẳng định.

Trong mô hình công xã nông thôn, toàn bộ ruộng đất đều thuộc quyền sở hữu Nhà nước của các đế vương, Nhà nước kết hợp với tôn giáo trị nhân dân và bóc lột nông nô công xác; tôn giáo bao trùm mọi mặt đời sống xã hội; con người sống nặng về tâm linh tinh thần và khao khát được giải thoát. Cũng trong mô hình này đã hình thành 4 đẳng cấp với sự phân biệt hết sức khắc nghiệt và dai dẳng. Đó là: Tăng lữ - đẳng cấp cao quý nhất trong xã hội bao gồm những người hành nghề tế lễ; quý tộc - đẳng cấp thứ hai trong xã hội - bao gồm vua, chúa, tướng lĩnh, bình dân tự do - đẳng cấp thứ 3 trog xã hội - bao gồm những người có chút tài sản, ruộng đất; tiện nô hay nô lệ - đẳng cấp thấp nhất vàđông đảo nhất - bao gồm những người tận cùng không có quyền lợi gì trong xã hội. Ngoài sự phân biệt đẳng cấp như trên, xã hội Ấn Độ cổđại còn có sự phân biệt về chủng tộc, dòng dõi, tôn giáo, nghề nghiệp...

Những sự phân biệt này đã tạo ra những xung đột ngấm ngầm trong xã hội nhưng bị kìm giữ bởi sức mạnh vật chất và tinh thần của Nhà nước - tôn giáo. Xã hội vận động, phát triển một cách chậm chạp và nặng nề. Tuy vậy, nhân dân Ấn Độ vẫn đạt được những thành tựu văn hoá tinh thần rực rỡ.

Về văn hoá,  chữ viết đãđược người ấn Độ sáng tạo từ thời văn háo Harappa, sau đó chữ Kharosthi (thế kỷ VTCN) ra đời; chữ Brami được dùng rộng rãi vào thời vua Axôca, sau cùng, nóđược cáhc tân thành chữĐêvanagari để viết tiếng Xanxcrit. Văn học có các bộ Vêđa - là các thần thoại diễn ca truyền khẩu được sáng tạo trong một quãng thời gian dài hơn 1000 năm; sau đó, nóđược ghi thành giáo lý của đạo Bà lamon. Vêđa vốn óc nghĩa là hiểu biết, nó là nền tảng tư tưởng tôn giáo - triết học - chính trị của ấn Độ cổđại; các bộ Sử thi (Mâhbarata, Râymyana....) nghệ thuật nổi bật là nghệ thuật tạo hình như kiến trúc, điêu khắc được thể hiện trong các cung điện, nhà chùa, tháp, lăng tẩm, trụđá.... (tháp Xansi (Sanchi)), trụđá Sarnath, lăng Tajmaha, các tượng phật và tượng thần...

Về khoa học tự nhiên: Người ấn Độđã làm ra lịch pháp, phân biệt đưcợ 5 hành tinh và một số chòm sao; đã phát hiện ra chữ số thập phân, sốp, xây dựng môn đại số học đã biết cách tính diện tích các hình đơn giản và xác định được quan hệ giữa các cạnh của một tam giác vuông; đãđưa ra giả thuyết nguyên tử... Người ấn Độ cũng có nhiều thành tựu trong y dược học.

Về tôn giáo: Ấn Độ là nơi sản sinh ra nhiều tôn giáo, trong đó quan trọng nhất làđạo Bà lamôn (về sau làđạo Hinđu) vàđạo phật, ngoài ra còn có các tôn giáo khác nhưđạo Jaira, đạo xích...

Tạo nên và nuôi dưỡng các thành tựu đó là lịch sửẤn Độ cổ và trọng đại. Lịch sử này gồm 4 thời kỳ.

Thời kỳ văn minh Sông Ấn (từ giữa thiên niên kỷ III đến giữa thiên niên kỷ II TCN). Nền văn minh này được biết đến qua sự phát hiện hai thành phố bị chôn vùi Haráppa và Mohenjo Đaroo ởl ưu vực Sông ấn vào năm 1920 nên còn được gọi là văn hoá Harâppa.

Thời kỳ văn minh Vêđa (từ giữa thiên niên kỷ II đến thế kỷ VII TCN). Nét nổi bật của nền văn minh này là sự thâm nhập của người Arya từ Trung á vào khu vực của người bản địa sớm phản ánh sinh hoạt của họ, và sự pha trộn giữa hai nền văn hoá - tín ngưỡng của hai chủng tộc khác nhau. Chếđộđẳng cấp vàđạo Bàlamôn xuất hiện góp phần hình thành một nền văn hoá mới của người Ấn Độ - văn hoá Vêđa.

Thời kỳ các vương triều độc lập (từ thế kỷ VI TCN đến thế kỷ XII) đây là thời kỳ có những biến động lớn về kinh tế, chính trị - xã hội, tư tưởng - văn hoá... với sự ra đời của các quốc gia và sự hình thành các trườn phái Triết học - tôn giáo lớn của Ấn Độ. Thế kỷ VI TCN, ởẤn Độ có 16 nước nhỏ trong đó nước mạnh nhất là Magađa nằm ở vùng hạ lưu sông Hằng. Năm 327 TCN, sau khi diệt được đế quốc Ba tư rộng lớn, quân đội Makêđônia do Alếch xăngđrơ chỉ huy đã tiến chiếm Ấn Độ. Nhưng do quá mệt mỏi mà họ không đủ sức tấn công nước Magađa. Alếch xăng đrơ cho quân rút lui. Khi quân đội Makêđônia rút lui, thủ lĩnh Sanđragupta, biệt hiệu Môrya (chim công) lãnh đạo phong trào đấu 

Ghi chú: Tài liệu này được thành viên baotram đăng lên thư viện. Theo quy định điều khoản sử dụng, Thuvien24.com không chịu bất kỳ trách nhiệm nào đối với bản quyền tài liệu. Bạn tự cân nhắc trước khi tải tài liệu.
Xem bình luận
duongthithuy
Cám ơn BQT đã tạo ra trang tài liệu có ích
phanhaicuong
Cái này được nè, thanks
vipcuchuoi02
được rùi. em cảm ơn nhé. Tại lần đầu tải tài liệu ở trang này.
tamngahoanguyen
Sẽ chia sẻ cho mọi người biết về thuvien24.com
vantribinhdinh
Toi xin cam on su ho tro nhiet tinh cua thuvien24!
  • Tài liệu mới
  • Tài liệu nổi bật
  • Tài liệu liên quan
  • Tài liệu cùng người đăng
Luận văn : Bảo Mật Mạng Máy Tính và Tường Lửa

Luận văn : Bảo Mật Mạng Máy Tính và Tường Lửa

Lượt down: 0

Người đăng: mupoanh

Báo cáo tốt nghiệp: Mạng riêng ảo VPN

Báo cáo tốt nghiệp: Mạng riêng ảo VPN

Lượt down: 0

Người đăng: mupoanh