Thơ văn xuôi Việt nam 1975 - 2000

Thơ văn xuôi Việt nam 1975 - 2000

Khuyến mại Chính sách bảo hành

Thể loại: Khoa học, xã hội

Cập nhật:

Kiểu file: doc

Người đăng:

Điểm download: 400

Lượt tải: 5

để ủng hộ website nếu bạn thấy tài liệu này có giá trị, xin cám ơn!
Click
Chính sách đảm bảo Tài liệu này của thành viên thuvien24 và được Thuvien24.com đảm bảo. Xem chi tiết

Mục lục
Trang
Mở đầu    1
1. Lí do chọn đề tài    1
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu    1
3. Phạm vi, đối tượng nghiên cứu    2
4. Phương pháp nghiên cứu    2
5. Lịch sử vấn đề        2
6. Cấu trúc của luận văn    8
Chương 1
Những tiền đề lịch sử x• hội và tư tưởng thẩm mỹ cho sự phát triển thơ văn xuôi (1975 - 2000)    9
1.1. Thơ văn xuôi trên hành trình  thơ ca Việt Nam thế kỉ XX     9
1.1.1. Những tìm tòi thể nghiệm đổi mới hình thức thơ đầu thế kỷ XX    9
1.1.2. Cuộc cách tân hình thức thơ trong phong trào Thơ mới    13
1.1.3. Thơ ca kháng chiến và nhu cầu tìm tòi đổi mới hình thức thơ    15
1.2. Hiện thực cuộc sống và số phận con người thời hậu chiến    23
1.2.1. Sự đổi thay của hiện thực cuộc sống    23
1.2.2. Con người với nhu cầu được đối thoại    25
1.3. Sự thay đổi trong tư duy nghệ thuật thơ    27
1.3.1. Tư duy nghệ thuật thơ trước 1975    27
1.3.2. Tư duy nghệ thuật thơ sau 1975    35
1.4. Mở rộng giao lưu quốc tế và sự thức tỉnh con người cá nhân    40
1.4.1. Mở rộng giao lưu tiếp xúc    41
1.4.2. Sự thức tỉnh con người cá nhân
43
Chương 2
Cảm hứng chủ đạo trong thơ văn xuôi (1975 – 2000)    46
2.1. Nhận thức lí giải những vấn đề thế sự, đời tư    46
2.1.1. Nhà thơ đối diện với mình trong những dằn vặt nghĩ suy    46
2.1.2. Nỗi niềm người lính trở về sau chiến tranh    49
2.1.3. Những nỗi niềm riêng trong cuộc sống đời thường    55
2.2. Tình yêu và hạnh phúc    61
2.2.1. Một cách nhìn mới về tình yêu hạnh phúc    61
2.2.2. Những lo âu, trăn trở trong tình yêu    64
2.3. Chiêm nghiệm suy tư về con người và cuộc sống     69
2.3.1. Những lầm lạc trong cuộc đời tục luỵ    70
2.3.2. Những suy tư về kiếp nhân sinh    73
Chương 3
Một số đặc điểm nghệ thuật tổ chức lời thơ trong thơ văn xuôi (1975 - 2000)    77
3.1. Ngôn ngữ thơ    77
3.1.1. Dung nạp ngôn ngữ đời thường    77
3.1.2. Sử dụng nhiều từ nối trong tổ chức cấu thơ     82
3.1.3. Sử dụng từ ngữ lập luận    85
3.2. Một số thủ pháp nghệ thuật tổ chức lời thơ    89
3.2.1. Thủ pháp so sánh mở rộng câu thơ    89
3.2.2. Thủ pháp trùng điệp lời thơ    95
Kết luận    103
Tài liệu tham khảo    105




mở đầu
1. Lí do chọn đề tài.
    1.1. Cho đến nay sự tồn tại của thơ văn xuôi trong đời sống của thơ ca hiện đại là một thực tế không thể phủ nhận. Nó được nhìn nhận như một hiện tượng tự nhiên trong quá trình dân chủ hóa hình thức thơ mang tính toàn cầu, gắn với nhu cầu của con người thời hiện đại.
    Trong thơ ca Việt Nam, hình thức thơ văn xuôi xuất hiện khá sớm. Tuy nhiên giai đoạn được xem là nở rộ của nó là thời kì sau chiến tranh chống Mỹ. Nghiên cứu hình thức thơ văn xuôi thời kì này, vì vậy để góp phần tìm hiểu thêm về xu hướng vận động của hình thức thơ trong thơ ca Việt Nam hiện đại.
    1.2. Thơ văn xuôi được xem như là một trong ba hình thức cơ bản của thơ (Thơ cách luật, Thơ tự do, Thơ văn xuôi). Sự ra đời của nó gắn liền với nhu cầu giải phóng con người cá nhân trong thời hiện đại, nhằm tìm kiếm một giọng điệu phức tạp, gai góc, vừa lắm lí sự, suy tư, vừa bộc lộ cảm xúc ào ạt, m•nh liệt, giải phóng tối đa sự dạt dào cảm xúc của chủ thể trữ tình. Nghiên cứu thơ văn xuôi, không chỉ để hiểu đặc trưng về phương diện cấu trúc thơ mà còn gợi mở nhiều vấn đề về mối quan hệ giữa hình thức thơ và thời đại.
    1.3. Trong những năm gần đây, thơ văn xuôi đ• xuất hiện trong chương trình văn học từ bậc phổ thông đến đại học. Việc nghiên cứu thơ văn xuôi, vì vậy, có ý nghĩa thực tiễn, giúp cho người dạy, người học có thêm những tri thức về thể loại. Từ đó có được định hướng đúng đắn trong việc tiếp cận các tác phẩm thơ văn xuôi trong nhà trường.
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
    2.1. Như tên đề tài đ• xác định, mục đích của đề tài là khảo sát thơ văn xuôi Việt Nam 25 năm cuối thế kỷ XX từ góc nhìn thể loại.
    2.2. Với mục đích đó, đề tài có nhiệm vụ:
    Thứ nhất, chỉ ra được những cơ sở cho sự phát triển mạnh mẽ của thơ văn xuôi giai đoạn 1975 - 2000.
    Thứ hai,  chỉ ra được những đặc điểm cơ bản của thơ văn xuôi giai đoạn 1975 - 2000 trên một số phương diện như: Cảm hứng, giọng điệu, nghệ thuật tổ chức lời thơ.
    Thứ ba, trong một chừng mực nhất định, chỉ ra được những đổi mới hình thức thơ so với các giai đoạn trước đó.
3. Phạm vi, đối tượng nghiên cứu
    3.1. Phạm vi nghiên cứu
    Thơ văn xuôi 1975 - 2000 nở rộ, phong phú và đa dạng. Tuy nhiên, sự thành công lại không có nhiều. Vì lẽ đó, chúng tôi giới hạn phạm vi khảo sát của mình chủ yếu vào một số hiện tượng được tuyển chọn vào tuyển tập Thơ văn xuôi (Việt Nam và nước ngoài) của hai soạn giả Nguyễn Văn Hoa và Nguyễn Ngọc Thiện, Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, 1997. Ngoài ra chúng tôi, còn sử dụng một số tác phẩm thơ văn xuôi được đăng trên các báo Văn nghệ, Văn nghệ Quân đội, Văn nghệ trẻ làm đối tượng khảo sát.
    3.2. Đối tượng nghiên cứu
    Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hình thức thể loại thơ xét từ nhiều mối quan hệ (với thời đại, với chủ thể sáng tạo, ...).
4. Phương pháp nghiên cứu
    Xuất phát từ nhiệm vụ, mục đích của đề tài, chúng tôi đặt đối tượng trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể, trong mối quan hệ nhiều chiều, trên cơ sở kế thừa kết quả nghiên cứu của những người đi trước, chúng tôi sử dụng một số phương pháp như: phân tích, thống kê, so sánh đối chiếu, khái quát…
5. Lịch sử vấn đề        
    Nhìn chung, cho đến nay thơ văn xuôi đ• có một qúa trình hình thành phát triể nhưng vẫn còn chưa định hình. Mặc dầu còn có ý nghĩa nghi ngờ hình thức thơ văn xuôi, thấm chí không muốn chấp nhận nó là một hình thức thơ ca, tuy nhiên, trên thực tế nó đ• tồn tại, và có một diện mạo riêng. Những công trình nghiên cứu công phu và chuyên sâu về thơ văn xuôi chưa nhiều. Hầu hết mới dừng lại ở một vài cảm nhận bước đầu, hoặc là đi vào phê bình giới thiệu một bài thơ văn xuôi cụ thể. Dựa trên những tư liệu bao quát được, và trong phạm vi quan tâm của đề tài, có thể khái quát một số vấn đề cơ bản đ• được các nhà nghiên cứu bàn đến trong thơ văn xuôi Việt Nam giai đoạn 1975 – 2000 như sau:
    5.1. Cho đến nay sự tồn tại của thơ văn xuôi trong đời sống thơ ca hiện đại là một thực tế không thể phủ nhận. Nó được nhìn nhận như một hiện tượng tự nhiên trong quá trình dân chủ hóa hình thức thơ mang tính toàn cầu, gắn với nhu cầu của con người hiện đại. Trong thơ ca nhân loại cũng như thơ ca Việt Nam đ• có những tên tuổi lớn gắn liền với những bài thơ văn xuôi nổi tiếng như W. Whitman (1819 - 1892), C. Baudalaire (1821 - 1867), A. Rimbau (1854 - 1891), Lỗ Tấn (1881 - 1936), R. Tagore (1861 - 1941), Chế Lan Viên (1920 - 1989).... Tuy nhiên cho đến nay thơ văn xuôi vẫn là một thể loại chưa hoàn tất, đang trong quá trình vận động phát triển. Chính vì vậy, việc xác định nội hàm khái niệm là một điều chưa thể. Trong bối cảnh đó, các ý kiến bàn về thơ văn xuôi nói chung, thơ văn xuôi Việt Nam giai đoạn 1975 – 2000 nói riêng mới chỉ là sự khởi đầu.
    Bàn về qúa trình hình thầnh phát triển của hình thức thơ văn xuôi trong văn học Việt Nam, nhiều ý kiến cho rằng nó đ• có mầm mống từ thể văn biền ngẫu trong văn chương trung đại như Cáo, Hịch, Phú... Tiêu biểu cho quan niệm này là Xuân Diệu, Hà Minh Đức. Xuân Diệu, nhà thơ có công đầu trong việc đóng góp những suy nghĩ, tìm tòi mang tính lí luận về sự hình thành và phát triển của thơ văn xuôi nói chung và thơ văn xuôi Việt Nam nói riêng, trong tiểu luận Vài ý kiến về Thơ văn xuôi (in trên Báo Văn nghệ số 88/ 1965), đ• cho rằng: “Thơ văn xuôi có nguồn gốc từ thể phú, một thể loại vừa là thơ, vừa là văn; nó là thơ vì nó có âm thanh theo luật bằng trắc, có vần; mặt khác nó cũng là văn, vì câu dài, có đôi khi câu khá dài như một câu văn (trong thể câu đối, tức là tương đương với hai vế của một câu phú, thì có những trường hợp câu rất dài), nhưng câu văn này cắt thành từng mạch nhỏ, theo một nhịp điệu tiết tấu làm ưa thích cho tai nghe, và câu dưới đối với câu trên”. Và theo Xuân Diệu, các bài phú như Tiền Xích Bích phú, Hậu Xích Bích phú của Tô Thức, Bài Văn tế chị của Nguyễn Hữu Chỉnh, Khóc Trương Quỳnh Như của Phạm Thái... đều mang những đặc điểm trên.
    Cũng theo Xuân Diệu, thơ văn xuôi đòi hỏi người đọc phải có một trình độ tư duy nhất định. Khi tiếp nhận một bài thơ văn xuôi, bên cạnh phần rung động của cảm xúc, người đọc phải biết huy động cả sức cảm và sức nghĩ của trí tuệ. Người đọc khó có thể thuộc lòng và ngẫm ngợi một bài thơ văn xuôi như đối với các thể thơ khác. Tuy nhiên, nhà thơ Xuân Diệu cũng nhắc nhở bạn đọc phải nắm được quy luật của sự thưởng thức văn nghệ, công chúng vốn không thích sự đơn điệu, thêm được công cụ để diễn đạt thì nhà thơ cũng sẽ dễ xoay trở hơn, thơ sẽ có nhiều dạng sắc hơn. Sự tìm tòi đa dạng, mở rộng các hình thức diễn đạt này không phải là một sự tìm tòi hình thức chủ nghĩa, mà là do nhu cầu bên trong của sự sáng tạo, muốn mở rộng các hình thức, các thể điệu nhằm phục vụ cho sự diễn đạt nội dung được đắc lực và hiệu quả hơn. So với các thể thơ cách luật và thơ tự do, thơ văn xuôi có thế mạnh là có thể đạt được cùng một lúc những cảm xúc trùng điệp, những hình ảnh, những ý thơ liên tiếp. Do đó trong một câu thơ văn xuôi, có thể diễn tả được nhiều sự kiện, nhiều hình ảnh, nhiều cảm xúc bề bộn đan xen nhau. Có những bài thơ văn xuôi có sức bao quát rộng, ôm chứa được dung lượng nội dung khá lớn. Nó giúp cho nhà thơ chuyển tải được những tư tưởng phức tạp, những cung bậc gồ ghề, sắc cạnh của tình cảm.
    Hà Minh Đức trong chuyên luận Các thể thơ ca và sự phát triển của hình thức thơ ca trong văn học Việt Nam (1968) đ• cho rằng, các thể văn vần như phú và văn tế và các loại biền văn như hịch, cáo đều có dáng dấp của thơ văn xuôi... Và suy cho cùng thì thể văn xuôi cũ cũng là nguồn gốc gần xa của một thể thơ văn xuôi sau này. Theo ông, sự khác biệt của thơ văn xuôi với phú, cáo, hịch, văn tế là ở chỗ các thể văn truyền thống có quy tắc về vần và đối còn thơ văn xuôi thì không.
    Như vậy, với nhiều cách nói khác nhau, nhưng cả người sáng tạo người tiếp nhận đều có ý thức rõ ràng về một hình thức thơ vượt thoát những trói buộc của thơ cách luật, giải phóng tới mức tối đa năng lượng cảm xúc dồn nén, đáp ứng nhu cầu đối thoại với cuộc đời của nhà thơ. ở đó, thơ và văn xuôi đ• giao thoa, hỗ trợ cho nhau tạo nên một khả năng riêng mà các hình thức thơ trước đó không có được. Nó được nhìn nhận là một xu hướng vận động tư nhiên của thơ ca. Sự ra đời của thể thơ văn xuôi được xem là một nhu cầu tất yếu gắn liền với nhu cầu giải phóng con người cá nhân trong thời hiện đại, nhằm tìm kiếm một giọng điệu phức tạp, gai góc, vừa lắm lý sự, suy tư và bộc lộ một cảm xúc ào ạt, m•nh liệt, giải phóng tối đa, sự dạt dào cảm xúc của chủ thể trữ tình.
    5.2. Nhìn vào sự phát triển của các thể loại thơ Việt Nam sau 1975, có thể thấy thơ văn xuôi đ• khẳng định được vị trí của mình. Thơ văn xuôi có mặt trong hành trang của nhiều thế hệ nhà thơ, như: Nguyễn Đình Thi (Nơi dựa, Truyền thuyết về chim phượng), Phùng Quán (Trăng hoàng cung), Trinh Đường (Chim năm sắc bi ca), Văn Cao (Đêm quán), Tế Hanh (Văn xuôi cho em), Phạm Hổ (Cái đêm Thánh Gióng về trời), Lê Đạt (Ngó tình), Lữ Huy Nguyên  (Mặt trời đỏ bây giờ và bến sông xưa), M• Giang Lân (Một vùng sông), Lê Quang Trang (Vô đề), Nguyễn Hoa (Mùa xuân về), Trúc Thông  (Nhớ mẹ sông Châu và Nao nao rừng núi), Thu Bồn
(Con xà mâu tội nghiệp), Thanh Quế (Chùm thơ dọc đường), Trịnh Thanh Sơn  (Gửi mẹ và Bến xưa), Vũ Duy Thông  (Tình yêu không lời hứa và Đang mưa ngoài bờ sông), ý Nhi (Tiếng gọi), Lò Ngân Sủi (Người đẹp), Hoàng Vũ Thuật  (Mùa thu ơi)... Sự hiện diện đông đảo các nhà thơ làm thơ văn xuôi, chứng tỏ thơ văn xuôi không phải là đặc quyền của lớp nhà thơ nào. Tuy nhiên, nhìn vào thực tế sáng tác của các nhà thơ thì dường như thế hệ các nhà thơ trẻ “mặn mà”, và “có duyên” với thơ văn xuôi hơn. Đó cũng là điều dễ hiểu. Các nhà thơ lớn tuổi không dễ dàng từ bỏ nếp tư duy quen thuộc với những âm thanh, nhịp điệu đ• thành máu thịt của mình. Vai trò tiên phong cho những đổi mới nghệ thuật thường thuộc về lớp trẻ, những người đang sung sức, đầy hăm hở và đam mê. Mỗi người một cách, họ đang không ngừng tìm kiếm và thể nghiệm để khẳng định mình.
    5.3. Bàn về qúa trình vận động phát triển của thơ văn xuôi Việt  Nam, Lưu Khánh Thơ trong tiểu luận Thơ văn xuôi trong sự vận động của thể loại thơ sau 1975 đ• điểm lại quá trình vận động của thơ văn xuôi, khẳng định sự tồn tại của thơ văn xuôi trong đời sống thơ ca Việt Nam và cho rằng, đó là một “thể tài không thể bỏ qua”. Như chúng ta đ• biết, văn học trước hết là một hiện tượng ý thức x• hội. Tương ứng với bức tranh x• hội rộng lớn và phức tạp là một bức tranh thơ nhiều gam màu, dáng vẻ. Thơ văn xuôi sau 1975 phát triển đa dạng và phong phú với nhiều xu hướng, nhiều giọng điệu riêng. Mặc dầu chưa có tác phẩm lớn, chưa có những đỉnh cao nhưng nó đ• góp phần làm nên sự phong phú, phức tạp của thơ Việt Nam thời hậu chiến. Việc dựng nên một bức tranh chung về thơ ca Việt Nam sau 1975, nói chung, thơ văn xuôi nói riêng, vì vậy, là một công việc cực kỳ khó khăn, phức tạp. Cho đến nay, đ• có một số công trình nghiên cứu về thơ sau năm 1975, trong đó ít nhiều đều có đề cập đến thơ văn xuôi. Có thể kể đến một số cuốn sách như: 50 năm văn học Việt Nam sau cách mạng tháng Tám (Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, 1996), Văn học Việt Nam trong thời đại mới (Nhà xuất bản Giáo dục Hà Nội 2002), Văn học 1975 - 1985 tác phẩm và dư luận (Nhà xuất bản Hội nhà văn, Hà Nội, 1997)… Ngoài ra còn có thể kể đến một số số bài nghiên cứu, phê bình rải rác trên các báo và tạp chí từ những năm 90 lại nay, như: Thơ văn xuôi trong sự vận động của thể loại thơ sau 1975, Trường ca trong hệ thống thể loại thơ Việt Nam hiện đại, Thơ 1975 - 1995, sự biến đổi của thể loại... Đặc biệt trong thời gain này có hai luận án tiến sỹ của Vũ Tuấn Anh và Lê Lưu Oanh nghiên cứu về sự phát triển của cái tôi trữ tình sau 1975, trong đó có đề cập đến hình thức thơ văn xuôi với tư cách là một hình thức thể loại thể hiện một một dạng thức tồn tại của cái tôi trữ tình trong thơ. Về cơ bản, các công trình ấy đ• nhận diện và phác thảo quá trình phát triển của thơ sau năm 1975. Trong công trình Thơ trữ tình Việt Nam 1975 - 1990 (Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, 1998) trên cơ sở nghiên cứu sự vận động của cái tôi trữ tình trong thơ, Lê Lưu Oanh đ• tái hiện một cách khá đầy đủ các gương mặt nổi bật của thơ Việt Nam đương đại, nhận diện và phân loại những xu hướng phát triển chính của thơ sau 1975. Trọng tâm của công trình là đi sâu khai thác cái tôi trữ tình và một số phương thức biểu hiện cái tôi trữ tình, trong đó có cái tôi trữ tình trong thơ văn xuôi. Theo Lê Lưu Oanh,  thơ văn xuôi sau 1975 có hai khuynh hướng chính. Thứ nhất, “tìm kiếm một giọng điệu vừa phức tạp vừa gai góc, lắm lý sự, nhiều chất suy nghĩ”; thứ hai “bộc lộ cảm xúc ào ạt, m•nh liệt, gấp gáp, không điềm tỉnh mà say đắm buông thả, không muốn bị ràng buộc bởi bất kỳ một niêm luật nào để giải phóng sự tối đa sự dạt giào của cảu cảm xúc và lối kiến trúc bề thế, tầng lớp của hình ảnh từ ngữ” [12,148].
    Hà Minh Đức trong bài viết Thơ văn xuôi lại đi vào tìm hiểu ranh giới về hình thức giữa thơ và thơ văn xuôi, văn xuôi và thơ văn xuôi trên các phương diện: phương thức biểu hiện trữ tình, những hình thức so sánh và vận dụng ngôn ngữ, hình ảnh và tứ thơ, cấu trúc câu thơ... Theo ông, “thơ văn xuôi buộc người viết phải tuân theo những quy luật nghiêm khắc bên trong của nó. Trước hết tác giả phải có cảm xúc một thi nhân và dù với tính chất rộng r•i và linh hoạt  của phạm vi diễn tả, nhà thơ phải tìm được sự hài hoà bên trong của ngôn ngữ và nhịp điệu và sự hàm súc của hình ảnh và lời thơ. Một bài thơ văn xuôi không thể là một bài văn xuôi bình thường mà phải là một sáng tác giàu chất thơ. ở đây cảm hứng thơ ca tuy không biểu hiện ra ở những câu thơ, những người viết phải biết chọn lọc những hình thức phù hợp” [12, 627]. Trên bình diện cấu trúc ngôn ngữ, Hữu Đạt lại cho rằng, “thơ văn xuôi là đỉnh phát triển cao nhất của thơ tự do” [12, 630]. Trong bài viết Tư duy và cấu trúc nghệ thuật thơ văn xuôi, Nguyễn Ngọc Thiện cho rằng, thơ văn xuôi có những đặc điểm ưu việt so với các thể thơ khác trong việc bộc lộ tình cảm. Giải thích điều này ông viết: “một khi khuôn khổ thể thơ thường, quen thuộc, không đủ giúp người ta thực hiện sự tự phơi bày mình như một bản thể thự do, khi đó người ta đi tìm một lối khác: đến với thơ tự do không vần hoặc thơ văn xuôi” [12, 649]. Và theo ông, thơ văn xuôi ra đời “trước hết là do đòi hỏi của một tư duy nghệ thuật mới, đi tìm một độ căng thẩm mỹ mới dựa vào áp lực liên kết của các ý thơ, câu thơ xếp liền nhau, theo một liên hệ cộng hưởng nước đôi: một mặt vẫn tuân thủ trục dọc liên tưởng của thơ, mặt khác thu nạp sự diễn tiến theo trục ngang của văn xuôi” [12, 649].
    ở các bài viết trên, các tác giả đ• đề cập đến một số vấn đề của hình thức thơ văn xuôi từ góc độ khái quát và đ• ít nhiều nêu được một số nét đặc trưng về hình thức thể loại. Tuy nhiên, do mục đích nhận diện hình thức thơ văn xuôi, các tác giả đ• không đi sâu vào phân tích một giai đoạn hay một hiện tượng cụ thể nào. Những ý kiến của các nhà nghiên cứu mới dừng lại ở những nhận định mang tính khái quát. Chúng tôi xem đó là cơ sở, là những gợi mở cho việc khảo sát thơ văn xuôi 1975 – 2000, một giai đoạn bùng phát của thơ văn xuôi Việt Nam.    
6. Cấu trúc của luận văn
    Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương:
    Chương 1: Những tiền đề lịch sử x• hội và tư tưởng thẩm mỹ cho sự phát triển thơ văn xuôi (1975 – 2000)
    Chương 2: Những cảm hứng chủ đạo trong thơ văn xuôi (1975 – 2000)
    Chương 3: Một số đặc điểm nghệ thuật tổ chức lời thơ trong thơ văn xuôi (1975 – 2000)
    Và cuối cùng là danh mục tài liệu tham khảo

Ghi chú: Tài liệu này được thành viên thuvien24 đăng lên thư viện. Theo quy định điều khoản sử dụng, Thuvien24.com không chịu bất kỳ trách nhiệm nào đối với bản quyền tài liệu. Bạn tự cân nhắc trước khi tải tài liệu.
Xem bình luận
danganhtuyet
Tài liệu nóng hổi, vừa thổi vừa down
thoa0905
Thật ý nghĩa, cám ơn website
nnthieu20
mong rằng bạn sẽ có nhiều bài hay như thế này nữa
vietnham2013
Mong rằng website càng ngày tài liệu sẽ càng nhiều.
thuytrang89
Rất mong được sự hỗ trợ của website trong tương lai
  • Tài liệu mới
  • Tài liệu nổi bật
  • Tài liệu liên quan
  • Tài liệu cùng người đăng
NGHIÊN CỨU HÀM LONG SƠN CHÍ- TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM

NGHIÊN CỨU HÀM LONG SƠN CHÍ- TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM

Lượt down: 0

Người đăng: baotram

Đề Cương Vật Lý A2

Đề Cương Vật Lý A2

Lượt down: 0

Người đăng: baotram

Báo cáo thực tập nhà máy thủy điện Hòa Bình

Báo cáo thực tập nhà máy thủy điện Hòa Bình

Lượt down: 0

Người đăng: baotram

Khai thác dữ liệu phân tán bảo toàn tính riêng tư

Khai thác dữ liệu phân tán bảo toàn tính riêng tư

Lượt down: 0

Người đăng: nguyenthuat85

Banner Scroll Left 4