THỰC TRẠNG NỢ XẤU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ PHƯƠNG THỨC GIẢI QUYẾT

THỰC TRẠNG NỢ XẤU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ PHƯƠNG THỨC GIẢI QUYẾT

Khuyến mại Chính sách bảo hành

Thể loại: Tài chính ngân hàng

Cập nhật:

Kiểu file: doc

Người đăng:

Điểm download: 400

Lượt tải: 7

để ủng hộ website nếu bạn thấy tài liệu này có giá trị, xin cám ơn!
Click
Chính sách đảm bảo Tài liệu này của thành viên quangchinh và được Thuvien24.com đảm bảo. Xem chi tiết

ĐỀ TÀI : THỰC TRẠNG NỢ XẤU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ PHƯƠNG THỨC GIẢI QUYẾT

I.LÝ LUẬN CHUNG VỀ NỢ XẤU

1.1.  Các khái niệm cơ bản

     Cũng như bất kỳ ngành kinh doanh nào khác, ngân hàng cũng có thể gặp rủi ro. Trên thế giới người ta phân ra nhiều loại rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, tiêu biểu nhất là rủi ro trong hoạt động tín dụng.

·        Tín dụng là quan hệ vay mượn dưới dạng tiền tệ có hoàn trả cả gốc và lãi giữa người cho vay và người đi vay

·        Rủi ro trong hoạt động tín dụng là tình trạng người đi vay không có khả năng hoàn trả được lãi và gốc vay.

1.2.            Quy định của Việt Nam về nợ xấu

Theo quyết định 493/2005/QĐ-NHNN và quyết định số 18/2007/QĐ-NHNN định nghĩa nợ xấu như sau : Nợ xấu là các khoản nợ thuộc nhóm 3,4 và 5 được phân loại như sau :

a) Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm:

- Các khoản nợ trong hạn và tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi đúng hạn;

- Các khoản nợ quá hạn dưới 10 ngày và tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ gốc và lãi bị quá hạn và thu hồi đầy đủ gốc và lãi đúng thời hạn còn lại;

b) Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm:

- Các khoản nợ được tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi nhưng có dấu hiệu khách hàng suy giảm khả năng trả nợ

- Các khoản nợ quá hạn từ 10 ngày đến 90 ngày;

- Các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu (đối với khách hàng là doanh nghiệp, tổ chức thì tổ chức tín dụng phải có hồ sơ đánh giá khách hàng về khả năng trả nợ đầy đủ nợ gốc và lãi đúng kỳ hạn được điều chỉnh lần đầu);

c) Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm:

- Các khoản nợ được tổ chức tín dụng đánh giá là không có khả năng thu hồi nợ gốc và lãi khi đến hạn. Các khoản nợ này được tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng tổn thất một phần nợ gốc và lãi.

- Các khoản nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày;

- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu, trừ các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu phân loại vào nhóm 2 theo quy định tại Điểm b Khoản này;

- Các khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng;

d) Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm:

- Các khoản nợ được tổ chức tín dụng đánh giá là khả năng tổn thất cao;

- Các khoản nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày;

- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu;

- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai;

đ) Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm:

- Các khoản nợ được tổ chức tín dụng đánh giá là không còn khả năng thu hồi, mất vốn.

- Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày;

- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu;

- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai;

- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quá hạn hoặc đã quá hạn;

- Các khoản nợ khoanh, nợ chờ xử lý;

Kết luận : Vậy theo quyết định này thì nợ xấu được quyết định theo 2 yếu tố (1) đã quá hạn trên 90 ngày và (2) khả năng trả nợ đáng lo ngại. Đây được coi là định nghĩa của VAS ( Chuẩn mực kế toán Việt Nam )

1.3.            Quy định và thông lệ quốc tế về nợ xấu

Theo định nghĩa nợ xấu của Phòng Thống kê - Liên hợp quốc, “về cơ bản một khoản nợ được coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên 90 ngày; hoặc các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả theo thoả thuận; hoặc các khoản phải thanh toán đã quá hạn dưới 90 ngày nhưng có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ được thanh toán đầy đủ”.

Như vậy, nợ xấu về cơ bản cũng được xác định dựa trên 2 yếu tố: (I) quá hạn trên 90 ngày và (ii) khả năng trả nợ nghi ngờ. Đây được coi là định nghĩa của IAS ( Chuẩn mực kế toán quốc tế )đang được áp dụng .

Một định nghĩa mới về nợ xấu theo chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) và IAS 39 vừa được Uỷ ban Chuẩn mực Kế toán quốc tế cho ra đời và được khuyến cáo áp dụng ở một số nước phát triển vào đầu năm 2005. Về cơ bản IAS 39 chỉ chú trọng đến khả năng hoàn trả của khoản vay bất luận thời gian quá hạn chưa tới 90 ngày hoặc chưa quá hạn. Phương pháp để đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng thường là phương pháp phân tích dòng tiền tương lai hoặc xếp hạng khoản vay (khách hàng). Hệ thống này được coi là chính xác về mặt lý thuyết, nhưng việc áp dụng thực tế gặp nhiều khó khăn. Vì vậy, nó đang được Uỷ ban Chuẩn mực Kế toán quốc tế chỉnh sửa lại.

1.4.            Sự khác biệt về định nghĩa nợ xấu  của Việt Nam và quốc tế

Trên thực tế thì định nghĩa nợ xấu của Việt Nam gần sát với chuẩn mực quốc tế mặc dù vậy cho đến nay hầu hết các ngân hàng thương mại Việt Nam chỉ mới hạch toán nợ xấu theo thời gian quá hạn trên 90 ngày (yếu tố 1); việc xác định khả năng trả nợ của khách hàng (yếu tố 2) đang gặp nhiều khó khăn. Phần lớn ngân hàng thương mại chưa hoặc đang thí điểm áp dụng phương pháp này. Báo cáo phân tích rằng hầu hết các NHTM tại Việt Nam hiện nay đều phân loại nợ dựa vào định lượng mà thiếu đi phần định tính như tình hình tài chính, kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Điều này dẫn đến việc phân loại nợ không phản ánh thực chất khoản nợ.

      Ngoài ra, một số ngân hàng còn biến nghiệp vụ gia hạn nợ, vốn là một nghiệp vụ bình thường của ngân hàng thành một hình thức để giảm tỷ lệ nợ xấu của mình do nợ gia hạn không được tính vào nợ xấu.

      Không ít ngân hàng đã hạn chế phân loại nợ xuống nhóm III-V để tránh trích lập dự phòng rủi ro tín dụng, tránh ảnh hưởng đến lợi nhuận của mình. Kết quả là sự chênh lệch giữa phân loại nợ xấu theo chuẩn trong nước và quốc tế ngày càng lớn.

2. Sự cần thiết phải xử lý ‘‘ nợ xấu’’ trong Ngân hàng thương mại

·  Ngân hàng mất khả năng thanh toán cho người gửi tiền : Nếu các khoản nợ xấu lớn, tức là khả năng thu hồi các khoản nợ của khách hàng thấp, ngân hàng sẽ phải dùng vốn để trang trải cho các khoản thất thoát này thì đến một chừng mực nào đó sẽ không còn khả năng thanh toán cho người gửi tiền tiết kiệm.

·  Ngân hàng là ngành kinh tế nhạy cảm, phụ thuộc vào những lòng tin do đó khi thông tin khả năng trả nợ ngân hàng là không chắc chắn, người gửi tiền sẽ đổ xô đi rút tiền làm ngân hàng lâm vào tình trạng phá sản.

·  Nợ xấu đe dọa tới sự an toàn và ổn định của toàn bộ nền kinh tế.

II. THỰC TRẠNG NỢ XẤU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 

Ghi chú: Tài liệu này được thành viên quangchinh đăng lên thư viện. Theo quy định điều khoản sử dụng, Thuvien24.com không chịu bất kỳ trách nhiệm nào đối với bản quyền tài liệu. Bạn tự cân nhắc trước khi tải tài liệu.
Xem bình luận
vietnham2013
Mong rằng website càng ngày tài liệu sẽ càng nhiều.
kimhoa_08
Xin cảm ơn
diepquynhchau
thanks bạn rất nhiều
Em vô tình biết được trang web này. Em vui lắm khi tìm được một trang web hay như vậy . Em xin cảm ơn :)
thomlun753453
xin đa tạ bạn một lần nữa
  • Tài liệu mới
  • Tài liệu nổi bật
  • Tài liệu liên quan
  • Tài liệu cùng người đăng
Phân tích công trình Magney House

Phân tích công trình Magney House

Lượt down: 0

Người đăng: ebook24