THỰC TRẠNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP QUẢN LÝ VIỆC THỰC HIỆN NHIỆM VỤ DẠY NGHỀ Ở MỘT SỐ TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

THỰC TRẠNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP QUẢN LÝ VIỆC THỰC HIỆN NHIỆM VỤ DẠY NGHỀ Ở MỘT SỐ TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Khuyến mại Chính sách bảo hành

Thể loại: Quản trị kinh doanh

Cập nhật:

Kiểu file: pdf

Người đăng:

Điểm download: 200

Lượt tải: 5

để ủng hộ website nếu bạn thấy tài liệu này có giá trị, xin cám ơn!
Click
Chính sách đảm bảo Tài liệu này của thành viên thuvien24 và được Thuvien24.com đảm bảo. Xem chi tiết
 
MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1. 1. VỀ MẶT LÝ LUẬN :
Giáo dục là hoạt động mà xã hội thiết lập để tạo điều kiện cho các thành viên của mình nâng cao nhân cách. Thực chất, đây là quá trình hình thành và nâng cao phẩm chất đạo đức, kiến thức, kĩ năng hành động của con người thông qua tất cả các dạng học tập.
Các công trình phân tích kinh tế về phát triển nguồn nhân lực đã khẳng định vai trò quan trọng của giáo dục trong đó có giáo dục phổ thông đối với việc phát triển chất lượng nguồn nhân lực, tạo nên những tiến bộ vượt bậc trong sản xuất, tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội và hướng vào sự phát triển người.
Mục tiêu giáo dục Việt Nam là đào tạo con người Việt Nam có đạo đức, trung thành với Tổ quốc, đáp ứng được yêu cầu xã hội và bảo vệ Tổ quốc.
Giáo dục phổ thông là bộ phận của giáo dục quốc dân, có vai trò hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ, trang bị những tri thức và những kĩ năng phổ thông cơ bản về khoa học, văn hóa, nghệ thuật, hướng nghiệp, có sức khỏe để tiếp tục học lên các bậc học cao hơn, học nghề, đi vào cuộc sống lao động sản xuất, thực hiện nghĩa vụ công dân.
Giáo dục phổ thông còn là một công cụ của sự phát triển kinh tế - xã hội, hướng vào mục tiêu truyền thụ tri thức và kĩ năng để chuẩn bị cho học sinh nghề nghiệp và thực thi nghề nghiệp. Trên cơ sở tri thức phải có kĩ năng thực hành, khả năng tác động vào cuộc sống; đồng thời hoạt động học tập phải gắn với hoạt động sáng tạo ra mọi giá trị của cuộc sống cùng với phát triển nhân cách văn hóa chứa đựng các giá trị truyền thống của cộng đồng, của dân tộc.
2
Giáo dục trung học cơ sở (THCS) là một mắt xích quan trọng trong hệ thống giáo dục phổ thông hoàn chỉnh. Trước hết nó phát huy kết quả của giáo dục tiểu học, tiếp tục phát triển giáo dục toàn diện, tạo điều kiện cho thanh thiếu niên phát triển hài hòa về “đức” và “tài”, phẩm chất và năng lực, sức khỏe và thẩm mỹ. Đặc biệt giáo dục THCS là một bộ phận cơ sở của bậc trung học mới, chuẩn bị cho học sinh tốt nghiệp học tiếp vào cấp cao trong bậc trung học gồm phổ thông trung học hoặc trung học chuyên biệt và trung học nghề, tức là chuẩn bị cho việc phân luồng sau THCS nhằm giảm áp lực đó là tất cả học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông (THPT) tập trung thi vào đại học gây nhiều tốn kém và lãng phí cho gia đình và xã hội.
Trong nghị định 126/CP ra ngày 13/3/1981 của Hội đồng Chính phủ, công tác hướng nghiệp được chính thức đưa vào trường phổ thông ở nước ta, trong đó ghi rõ nhiệm vụ “Tổ chức cho học sinh thực tập và làm quen với một số nghề” và “Tìm hiểu năng khiếu, khuynh hướng nghề nghiệp của từng học sinh…thực hiện phân luồng sau THCS, tạo điều kiện để học sinh tiếp tục học tập hoặc đi vào cuộc sống lao động”.
Luật giáo dục qui định rõ mục tiêu giáo dục phổ thông(nền học vấn cơ bản): Giúp học sinh phát triển toàn diện; bậc THCS có nhiệm vụ phát triển kiến thức bậc tiểu học, kiến thức THCS, hiểu biết về kỹ thuật và hướng nghiệp, chuẩn bị cho việc phân luồng học sinh.
Như vậy, ta thấy việc chuẩn bị tư tưởng, cung cấp vốn hiểu biết ban đầu về kỹ thuật lao động, định hướng nghề nghiệp cho học sinh là một nhiệm vụ ngày càng quan trọng trong nhà trường THCS, được thực hiện bằng nhiều hình thức mà dạy nghề là một công tác cần được chú trọng.
1. 2. VỀ MẶT THỰC TIỄN:
3
Trong giai đoạn hiện nay, yêu cầu về nguồn nhân lực đặc biệt cần thiết và cấp bách. Đại hội Đảng VIII đã đề ra: “Phát huy nguồn lực con người là yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững của công cuộc công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước”.
Sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước được đặt trước yêu cầu bức thiết: rút ngắn thời gian bằng những bước tuần tự kết hợp với những bước nhảy vọt. Con đường đó chỉ có thể thực hiện bằng một nguồn nhân lực đủ năng lực nội sinh để thực hiện mục tiêu xây dựng thành công đất nước. Với các nước đang ở thời kì đầu công nghiệp hóa và hiện đại hóa thì phân công ngành nghề trong xã hội phải tuân theo một tỉ lệ có cấu trúc đội ngũ nhân lực hợp lí. Ở nước ta hiện nay, tỉ lệ nhận lực chưa hợp lí so với các nước phát triển, cụ thể:
Bảng 1 : Tỉ lệ cấu trúc đội ngũ nhân lực
Kĩ sư
Trung học chuyên nghiệp
Công nhân
Việt Nam
1
1,75
2,5
Thế giới
1
4
10
Từ bảng 1 ta thấy số lượng công nhân ở Việt Nam so với lượng kĩ sư tương ứng mới chỉ có 25% so với các nước ở thời kì đầu công nghiệp hóa và điện đại hóa trên thế giới!
Bản chất của công việc trong thị trường lao động ngày nay đòi hỏi sự chuẩn bị về tri thức và kĩ năng hoàn toàn khác biệt so với thế hệ lao động những năm 1970 trở về trước. Do tác động của cách mạng Khoa học – Công nghệ, thị trường lao động ngày nay trở nên năng động hơn, thể hiện điều này là sự dịch chuyển kết cấu lao động và kết cấu ngành nghề. Do vậy, năng lực và kĩ năng lao
4
động tổng hợp là một trong những điều kiện cần thiết để người lao động thành công ơ û nơi làm việc hiện nay. Giáo dục phổ thông có thể đáp ứng được điều trên thông qua nội dung giảng dạy trong nhà trường, phương pháp giảng dạy và đặc biệt là thông qua hoạt động giáo dục lao động - kĩ thuật tổng hợp - hướng nghiệp và dạy nghề (LĐ – KTTH – HN – DN) trong trường phổ thông theo hướng gắn với thị trường lao động.
Một thực trạng đang diễn ra là phần lớn học sinh THCS lựa chọn hướng học tập, định hướng nghề nghiệp theo cảm tính cá nhân, gia đình hoặc do ảnh hưởng của bạn bè, sự lựa chọn mang đậm tính chất chủ quan và phiến diện, thiếu tính thực tiễn, không hợp với xu thế phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, học sinh học nghề không ngoài mục đích được cộng điểm vào kì thi tốt nghiệp, đa số các em đều có nguyện vọng học tiếp phổ thông hoặc thi vào các trường đại học, do đó sự phân bố nhân lực trong xã hội trở nên mất cân đối nghiêm trọng, “thừa thầy thiếu thợ”.
Công tác phân luồng học sinh sau bậc THCS hầu như không đạt kết quả: 98,4% học sinh tốt nghiệp THCS đi vào lớp 10 phổ thông (Chiến lược giáo dục Việt Nam 2000 – 2010 là 10%); trong khi đó chỉ 1,6% đi vào các Trung tâm giáo dục thường xuyên và các trường dạy nghề. Điều đáng lưu tâm, thanh niên luôn xem học nghề là “cùng sào”, chỉ chịu vào khi thất bại hoặc không có khả năng vào cao đẳng, đại học.
Để khắc phục những nhược điểm trên cần tiến hành các hoạt động tư vấn, giáo dục hướng nghiệp nhằm giúp học sinh định hướng cho việc chọn nghề trong tương lai dựa trên cơ sở phân tích khoa học về năng lực bản thân (học sinh có khả năng làm nghề gì ?) sự hứng thú của bản thân học sinh với nghề nghiệp (học sinh thích làm nghề gì ?) và nhu cầu nhân lực của nghề nghiệp trong xã hội (xã hội cần những lao động ngành nghề nào?), góp phần tích cực vào việc phân luồng
5
học sinh sau khi thi tốt nghiệp, giảm áp lực tâm lí, hạn chế sự mất cân đối về đào tạo.
Hàng năm chúng ta có khoảng một triệu học sinh tốt nghiệp THCS. Trong khi đó, hệ trường THPT mới chỉ có khả năng dung nạp 40% -> 50% số học sinh nói trên, trường dạy nghề và trường trung học chuyên nghiệp chưa đáp ứng được nhu cầu học tiếp sau THCS của học sinh. Như vậy là hàng năm có khoảng 50 vạn học sinh tốt nghiệp thcs sẽ trực tiếp đi vào lao động sản xuất. (tại thành phố Hồ Chí Minh, số học sinh tốt nghiệp THCS hàng năm vào khoảng 70.000 em). Những học sinh này nếu chưa được chuẩn bị trước những tư tưởng, kỹ thuật ban đầu cơ bản cần thiết thì sẽ không đáp ứng được yêu cầu của nghề mình đã chọn. Do có nhận thức chưa đúng, nhiều học sinh chọn học nghề phổ thông nào dễ lấy điểm, xem đó là một hình thức kiếm điểm cộng nhằm phòng tránh rủi ro trong kỳ thi tốt nghiệp, không quan tâm đến tính phù hợp giữa nghề đã chọn với đặc điểm tâm lý cá nhân. Ở các trường học thì thường chỉ tổ chức dạy chiếu lệ một vài nghề phổ thông nào đó tại trường, không đưa học sinh đi học các nghề khác được tổ chức dạy tại các Trung tâm kĩ thuật tổng hợp, hướng nghiệp và dạy nghề (Trung tâm KTTH. HN. DN).
1.3. VỀ PHÍA CÁ NHÂN NGƯỜI NGHIÊN CỨU:
Là người giảng dạy vấn đề này nhiều năm tại trường Cán bộ quản lý giáo dục thành phố Hồ Chí Minh, cá nhân nhận thấy thực tế tại các trường THCS tại thành phố Hồ Chí Minh còn tồn tại nhiều bất cập trong quản lỳ việc thực hiện nhiệm vụ giáo dục lao động - kĩ thuật tổng hợp - hướng nghiệp - dạy nghề cho học sinh THCS nói chung; đặc biệt trong việc dạy nghề còn tồn tại nhiều vấn đề: nhận thức của các lực lượng giáo dục về nhiệm vụ dạy nghề cho học sinh THCS còn chưa đúng thậm chí có những sai lệch (học nghề chỉ với mục đích “ưu tiên” trong việc xét tốt nghiệp, có nghĩa là điểm bằng nghề chỉ sử dụng và có giá trị
6
khi học sinh thi tốt nghiệp còn thiếu điểm…). Nếu các nhà quản lý trường học quan tâm đúng mức và có các biện pháp quản lý phù hợp thì hiệu quả việc thực hiện nhiệm vụ này sẽ tốt hơn. Chính vì vậy, tác giả muốn nghiên cứu đề tài này góp phần cao hiệu quả việc quản lý trong thực hiện nhiệm vụ dạy nghề ở bậc THCS, đóng góp vào thực tiễn giáo dục của thành phố.
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:
Bước đầu đề xuất các biện pháp quản lý của Hiệu trưởng để quản lý có hiệu quả hoạt động lao động - kĩ thuật tổng hợp - hướng nghiệp - dạy nghề nói chung, hoạt động dạy nghề nói riêng tại các trường THCS tại thành phố Hồ Chí Minh.
3. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:
- Nghiên cứu cơ sở lí luận của công tác quản lý hoạt động lao động - kĩ thuật tổng hợp - hướng nghiệp - dạy nghề nói chung và việc thực hiện nhiệm vụ dạy nghề nói riêng trong trường THCS tại thành phố Hồ Chí Minh.
- Khảo sát thực trạng quản lý việc thực hiện nhiệm vụ dạy nghề tại trường THCS trong thành phố :
+ Thực trạng về nhận thức tư tưởng của cán bộ quản lý, giáo viên, phụ huynh học sinh, học sinh về việc thực hiện nhiệm vụ dạy nghề cho học sinh THCS.
+ Thực trạng quản lý việc thực hiện nhiệm vụ dạy nghề tại một số trường THCS trong thành phố Hồ Chí Minh.
+ Đối chiếu cơ sở lý luận với thực trạng khảo sát rút ra ưu điểm và tồn tại trên cơ sở đó đề xuất giải pháp quản lý có hiệu quả việc thực hiện nhiệm vụ dạy nghề cho học sinh tại một số trường THCS trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
7
4. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU:
- Đối tượng nghiên cứu:
Hoạt động quản lý việc thực hiện nhiệm vụ dạy nghề của Hiệu trưởng tại một số trường THCS trong thành phố Hồ Chí Minh.
- Khách thể nghiên cứu:
Các lực lượng giáo dục (hiệu trưởng, giáo viên, học sinh, phụ huynh học sinh), cơ sở vật chất liên quan đến hoạt động dạy nghề tại một số trường THCS:
+ Trường THCS Nguyễn Du Quận 1
+ Trường THCS (BC) Khánh Hội A Quận 4
+ Trường THCS Ba Đình Quận 5
+ Trường THCS Lương Thế Vinh Quận 5
+ Trường THCS (BC) Lam Sơn Quận 6
+ Trường THCS Trần Quốc Tuấn Quận 7
+ Trường THCS Phan Tây Hồ Gò Vấp
+ Trường THCS Nguyễn Du Gò Vấp
+ Trường THCS Nguyễn Hiền Quận 12
+ Trường THCS Tân Chánh Hiệp Quận 12
+ Trường THCS Độc Lập Phú Nhuận
+ Trường THCS Châu văn Liêm Phú Nhuận
+ Trường THCS Ngô Mây Phú Nhuận
+ Trường THCS Ngô Quyền Tân Bình
+ Trường THCS Phú Xuân 4 Nhà Bè
+ Trung tâm KTTH. HN. DN Tân Bình
+ Phòng GD - ĐT Quận 1, Quận 7, Tân Bình…
8
Ngoài ra, chúng tôi còn có thu thập ý kiến của nhiều trường THCS và các đơn vị khác nữa trên địa bàn thành phố trong 3 năm học 2001 - 2002; 2002-2003; 2003 - 2004; học kì I năm học 2004 - 2005.
5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
5.1. CƠ SỞ KHOA HỌC:
5.1.1. Quan điểm hệ thống:
Vấn đề được nghiên cứu một cách toàn diện, khách quan : Quản lý việc dạy nghề cho học sinh THCS tại một số trường của thành phố Hồ Chí Minh phải được xem xét trong mối quan hệ với các hoạt động khác trong nhà trường, nhất là việc thực hiện đồng bộ cả 4 con đường hướng nghiệp; cũng như việc dạy nghề ở các hệ khác trong phạm vi toàn quốc (tính liên thông) so với mục tiêu đào tạo chung.
5.1.2. Quan điểm lịch sử, logic:
Tìm hiểu sự hình thành và phát triển của đối tượng nghiên cứu, cụ thể là hoạt động quản lý việc thực hiện nhiệm vụ dạy nghề ở một số trường THCS trong thành phố Hồ Chí Minh từ năm học 2001 – 2002 đến năm học 2004 – 2005 với những ưu điểm cần phát huy và những tồn tại cần khắc phục.
5.1.3. Quan điểm thực tiễn:
Qua điều tra, nghiên cứu thực tế, phân tích để phát hiện những tồn tại trong quản lý việc thực hiện nhiệm vụ dạy nghề cho học sinh THCS. Và cũng trên cơ sở thực tiễn đó, đề ra các giải pháp quản lý có hiệu quả.
5.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
5.2.1. Phương pháp quan sát:
- Đối tượng quan sát: Xưởng trường, phòng dạy nghề, hoạt động giờ dạy nghề ở các Trung tâm KTTH. HN. DN và tại các trường THCS đăng kí dạy nghề cho học sinh tại trường.
9
- Mục đích quan sát: Quan sát điều kiện cơ sở vật chất dành cho hoạt động dạy nghề; hoạt động của giáo viên và học sinh trong giờ dạy nghề…Tìm hiểu thực trạng quản lý việc thực hiện nhiệm vụ dạy nghề cho học sinh THCS.
5.2.2. Phương pháp điều tra:
Chúng tôi đã tiến hành gặp gỡ, trao đổi ý kiến về việc thực hiện nhiệm vụ dạy nghề với các đối tượng: Trưởng phòng giáo dục (Phú Nhuận, Bình Chánh, Quận 1, Quận 4), hiệu trưởng (Các trường THCS đã nêu ở mục 4), giáo viên dạy nghề tại các trường THCS và các Trung tâm KTTH. HN. DN, một số nhà nghiên cứu giáo dục. Để thực hiện chúng tôi đã đưa ra 7 loại biểu mẫu:
Biểu mẫu số 1:
Dành cho giáo viên THCS. Mục đích nắm tình hình thực trạng hoạt động giáo dục LĐ - KTTH – HN - DN từ 2001 đến 2004.
- Năm học 2001 - 2002: 19 trường (thu vào 20 phiếu)
- Năm học 2002 - 2003: 34 trường (thu vào 34 phiếu)
- Năm học 2003 - 2004: 34 trường (thu vào 34 phiếu)
Biểu mẫu số 2:
Dành cho cán bộ quản lý giáo dục. Mục đích tìm hiểu quan điểm và những khó khăn thuận lợi khi quản lý việc thực hiện nhiệm vụ này. (Thu vào là 38 phiếu)
Biểu mẫu số 3:
Dành cho giáo viên dạy nghề. Mục đích tìm hiểu nhận thức và tình hình sinh hoạt chuyên môn, tâm tư nguyện vọng và những thuận lợi khó khăn… khi trực tiếp dạy nghề cho học sinh. (thu vào 65).
Biểu mẫu số 4:
Dành cho học sinh lớp 9 năm học 2003 - 2004.
10
Mục đích tìm hiểu sở thích, yêu cầu, những thuận lợi khó khăn cũng như hiệu quả khi các em tham gia học nghề. (thu vào 787 phiếu)
Biểu mẫu số 5:
Dành cho phụ huynh học sinh lớp 9. Mục đích ghi nhận suy nghĩ, nguyện vọng của phụ huynh học sinh khi con em họ học nghề cũng như những đóng góp cho việc dạy nghề của nhà trường có hiệu quả hơn. (thu vào 372 phiếu)
Biểu mẫu số 6 và 7:
Mục đích lấy ý kiến cán bộ quản lý và giáo viên về tính cấp thiết và khả thi của các giải pháp mà luận văn nêu ra. ( Thu vào 60 phiếu)
5.2.3. Phương pháp nghiên cứu sản phẩm:
- Nghiên cứu kế hoạch năm học, kế hoạch hướng nghiệp năm học 2004 - 2005 để thấy vị trí của công tác dạy nghề trong nhà trường.
- Nghiên cứu hồ sơ dạy nghề (kế hoạch, hồ sơ sổ sách…).
- Nghiên cứu kết quả các bài tập, bài thực hành, kiểm tra của học sinh để qua đó phân tích chất lượng kết quả dạy nghề.
- Nghiên cứu giáo án lên lớp của giáo viên.
5.2.4. Phương pháp phỏng vấn:
Phỏng vấn một số Trưởng phòng giáo dục, Giám đốc Trung tâm KTTH. HN. DN và hiệu trưởng một số trường THCS về mục đích việc dạy nghề cho học sinh THCS, thuận lợi khó khăn cũng như những đề nghị cần thiết… khi quản lý việc thực hiện nhiệm vụ này tại các trường THCS.
- Phỏng vấn một số phụ huynh học sinh lớp 9, tìm hiểu quan điểm của họ khi cho con em đăng kí học nghề cũng như ghi nhận những tâm tư, đóng góp của phụ huynh học sinh đối với nhà trường để việc học nghề của con em họ thuận lợi và có hiệu quả hơn.
11
5.2.5. Vận dụng thống kê toán học:
Để phân tích và xử lý các số liệu điều tra nhằm định lượng các kết quả nghiên cứu, chúng tôi đã sử dụng phần mềm Excel để thống kê tần số, tính tỉ lệ phần trăm, trị số trung bình M, độ lệch chuẩn S.
Số liệu được qui ước như sau:
- Đối với câu hỏi có 4 khả năng trả lời:
a = 4 ; b = 3 ; c = 2 ; d =1.
- Đối với câu hỏi có 3 khả năng trả lời:
a=3 ; b = 2 ; c =1.
Công thức tính: ikiinxnMΣ==11 ()21211MnxnSikii−−=Σ=
Toàn bộ luận văn chúng tôi sử dụng 23 bảng số liệu và 7 sơ đồ.Cụ thể:
Phần mở đầu có 1 bảng số liệu.
Chương 1 có 5 sơ đồ.
Chương 2 có 20 bảng số liệu.
Chương 3 có 2 bảng số liệu và 2 sơ đồ.
6. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC:
Hoạt động quản lý thực hiện nhiệm vụ dạy nghề cho học sinh THCS tại thành phố Hồ Chí Minh còn nhiều bất cập; nếu có được các giải pháp quản lý đúng đắn thì hiệu quả hoạt động này sẽ được tăng cường, góp phần thúc đẩy sự nghiệp giáo dục đào tạo ở thành phố Hồ Chí Minh.
12
7. GIỚI HẠN ĐỀ TÀI:
Do thời gian có hạn, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu thực trạng quản lý việc thực hiện nhiệm vụ giáo dục Lao động - Kĩ thuật tổng hợp - Hướng nghiệp - Dạy nghề ở một số trường THCS tại thành phố Hồ Chí Minh trong năm học 2003 - 2004 thông qua việc dạy nghề và bước đầu đề xuất một số biện pháp quản lý để tăng hiệu quả đào tạo.
8. CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN:
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
2. Mục đích nghiên cứu
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
4. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
5. Phương pháp nghiên cứu
6. Giả thiết khoa học
7. Giới hạn của đề tài
8. Cấu trúc của luận văn
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
CHƯƠNG 2 : KHẢO SÁT THỰC TRẠNG.
CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

Ghi chú: Tài liệu này được thành viên thuvien24 đăng lên thư viện. Theo quy định điều khoản sử dụng, Thuvien24.com không chịu bất kỳ trách nhiệm nào đối với bản quyền tài liệu. Bạn tự cân nhắc trước khi tải tài liệu.
Xem bình luận
Tran trong cam on nhung nguoi da lam ra website nay de toi va moi nguoi co the tham khao va hoc tap tot hon! Toi hy vong voi no luc cua ban than va nhung tai lieu bo ich trong trang web se giup toi hoan thien von tieng hoc tap cua minh
NhanPhan
Xin cảm ơn ban quản trị đã giúp đỡ
hieu1111
cám ơn những tài liệu website đã cung cấp ^.^
Cám ơn anh/chị đã chia sẻ .Chúc sức khỏe .
Em cám ơn bác đã chia sẻ
  • Tài liệu mới
  • Tài liệu nổi bật
  • Tài liệu liên quan
  • Tài liệu cùng người đăng
Giáo trình Hóa phân tích định tính

Giáo trình Hóa phân tích định tính

Lượt down: 0

Người đăng: mupoanh

Bài giảng về Hệ thần kinh

Bài giảng về Hệ thần kinh

Lượt down: 0

Người đăng: mupoanh

Phát hành trái phiếu kênh huy động vốn hiệu quả

Phát hành trái phiếu kênh huy động vốn hiệu quả

Lượt down: 0

Người đăng: mupoanh

Enzyme trong thức ăn chăn nuôi

Enzyme trong thức ăn chăn nuôi

Lượt down: 0

Người đăng: mupoanh

Banner Scroll Left 4
Banner Scroll Right 4