TÌM HIỂU NHỮNG LỖI KHI SỬ DỤNG TIẾNG VIỆT CỦA HỌC SINH TIỂU HỌC VÀ ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC

TÌM HIỂU NHỮNG LỖI KHI SỬ DỤNG TIẾNG VIỆT CỦA HỌC SINH TIỂU HỌC VÀ ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC

Khuyến mại Chính sách bảo hành

Thể loại: Trung học, tiểu học

Cập nhật:

Kiểu file: doc

Người đăng:

Điểm download: 200

Lượt tải: 10

để ủng hộ website nếu bạn thấy tài liệu này có giá trị, xin cám ơn!
Click
Chính sách đảm bảo Tài liệu này của thành viên justdoit1412 và được Thuvien24.com đảm bảo. Xem chi tiết

 

PHẦN MỞ ĐẦU

 

Tiếng mẹ đẻ có vai trò cực kì quan trọng trong đời sống cộng đồng và trong đời sống mỗi con người. Đó là công cụ để giao tiếp và tư duy. Đối với trẻ em, tiếng mẹ đẻ càng có vai trò quan trọng. K.A.U – sin – Xki chỉ rõ: “Trẻ em đi vào đời sống tinh thần của mọi người xung quanh nó duy nhất thông qua tiếng mẹ đẻ và ngược lại, thế giới bao quanh đứa trẻ được phản ánh qua nó chỉ thông qua công cụ này. Tiếng mẹ đẻ có tính chất hai mặt: nó vừa là đối tượng học tập của học sinh, vừa tạo cho các em công cụ để học các môn học khác, có nghĩa nó là công cụ tư duy và giao tiếp.

Trong trường Tiểu học, học sinh được học tiếng mẹ đẻ một cách trực tiếp và khoa học qua môn Tiếng Việt.

Môn Tiếng Việt ở Tiểu học bao gồm các phân môn: Học vần, Tập viết (lớp 1), Tập đọc, Chính tả, Kể chuyện, Luyện từ và câu và Tập làm văn. Mỗi một phân môn lại có một nhiệm vụ chính:

-         Phân môn Học vần: là phân môn khởi đầu giúp học sinh chiếm lĩnh và làm chủ công cụ giao tiếp mới. Cùng với Tập viết, Học vần hướng dẫn học sinh biết cách sử dụng Tiếng Việt trong học tập và giao tiếp.

-         Phân môn Tập viết trang bị cho học sinh bộ chữ cái Latinh và những yêu cầu kĩ thuật để sử dụng bộ chữ cái đó trong học tập và giao tiếp; từ đó giúp các em viết thạo chữ quốc ngữ.

-         Tập đọc có nhiệm vụ đáp ứng yêu cầu hình thành và phát triển năng lực đọc cho học sinh.

-         Chính tả dạy cho học sinh tri thức và kĩ năng chính tả, phát triển năng lực sử dụng ngôn ngữ ở dạng viết trong hoạt động giao tiếp.

-         Dạy học Luyện từ và câu nhằm mở rộng, hệ thống hoá làm phong phú vốn từ của học sinh, cung cấp cho học sinh những hiểu biết sơ giản về từ và câu, rèn cho học sinh kĩ năng dung từ đặt câu và sử dụng các kiểu câu để diễn đạt tư tưởng, tình cảm của mình, đồng thời có khả năng hiểu người khác nói gì.

-         Kể chuyện giúp học sinh phát triển ngôn ngữ, đặc biệt là kĩ năng nghe nói.

-         Phân môn Tập làm văn nối tiếp tự nhiên các bài học của môn Tiếng Việt nhằm giúp học sinh tạo ra năng lực mới: năng lực sản sinh ngôn bản nói hoặc viết. Tập làm văn có khả năng hang đầu trong việc rèn cho học sinh nói và viết đúng tiếng Việt, có tác dụng lớn trong việc củng cố nhận thức cho học sinh.

Tuy rằng mỗi một phân môn Tiếng Việt lại có một vị trí, nhiệm vụ riêng nhưng tất cả đều có quan hệ biện chứng, thống nhất với nhau, bổ sung hỗ trợ cho nhau để đạt được mục tiêu cao nhất của môn Tiếng Việt đó là: hình thành 4 kĩ năng: Nghe – nói – đọc – viết cho học sinh; từ đó học sinh có thể sử dụng thành thạo tiếng mẹ đẻ, phục vụ vào công việc và trong cuộc sống.

Tuy nhiên, trên thực tế hiện nay, trong quá trình sử dụng tiếng Việt, học sinh tiểu học còn mắc rất nhiều lỗi sai: lỗi phát âm, lỗi chính tả, lỗi diễn đạt, lỗi dùng từ, ….khiến cho việc diễn đạt suy nghĩ, tư tưởng, tình cảm của các em còn hạn chế, gây nhiều khó khăn trong hoạt động học tập, lao động hay trong sinh hoạt đời sống.

 Trước thực trạng đó, em xin được tìm hiểu về vấn đề: “Một số lỗi thường gặp ở học sinh Tiểu học khi sử dụng tiếng Việt và cách khắc phục”.

 Em tìm hiểu về bốn loại lỗi mà học sinh tiểu học thường mắc phải khi sử dụng tiếng Việt, đó là lỗi phát âm, lỗi chính tả, lỗi khi sử dụng từ và lỗi viết câu.

-         Lỗi phát âm

-         Lỗi chính tả bao gồm một số lỗi cụ thể: Lỗi viết sai chính tả; lỗi đánh dấu thanh sai vị trí; lỗi viết hoa; lỗi thiếu nét; lỗi viết sai cỡ chữ, khoảng cách chữ.

-         Lỗi khi sử dụng từ: so sánh sai, kết hợp sai, sai nghĩa, vừa sai nghĩa vừa sai kết hợp, dung cụm từ cố định sai.

-         Lỗi viết câu: lỗi trong câu (sai cấu tạo ngữ pháp; lỗi về nghĩa; lỗi khi sử dụng dấu câu); lỗi ngoài câu (lỗi câu lạc chủ đề, mâu thuẫn với nhau về ý, dùng sai phương tiện liên kết, lỗi câu trùng lặp về ý (từ)).

Trong mỗi một lỗi, em chỉ ra thực trạng, nguyên nhân và đưa ra một số biện pháp khắc phục lỗi sai đó.

Sau đây là phần nội dung chi tiết:

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

PHẦN NỘI DUNG

A.   Lỗi phát âm

I. Thực trạng

Học sinh thường mắc những lỗi phát âm như sau:

+ Phần âm: Học sinh thường sai lẫn : l – n, p – b

 Nhiều học sinh

+ Phần vần:

·        Sai lẫn ở những âm đầu vần: vần ươu đọc thành iêu, vần ưu đọc thành iu, vần ươm đọc thành ưm; uôm đọc thành um;…

·        Sai lẫn âm cuối: ac đọc thành at , uôn đọc thành uông, ươn đọc thành ương, anh đọc thành ăn…

+ Đọc tiếng từ: Sai lẫn phụ âm:  l – n (nón – lón…)

+ Sai lẫn dấu thanh:

·        Thanh hỏi – thanh nặng (đi ngủ - đi ngụ, cử tạ - cự tạ, củ sả - cụ sạ…)

·        Thanh sắc – thanh ngã (em bé ngã – em bé ngá, lọ mỡ - lọ mớ, ghé gỗ - ghế gố…)

II. Nguyên nhân

Một số nguyên nhân dẫn đến học sinh phát âm sai lẫn như trên:

- Sai do cách phát âm theo vùng miền (VD:  l – n)

          - Sai do thói quen sử dụng từ ngữ của vùng miền (Bẩn – bửn, rượu – riệu, gãy – gẫy, bạn – bẹn, em - iem )

-         Sai do bộ máy phát âm của các em chưa hoàn chỉnh (sai dấu thanh)

-         Sai do bản thân các em chưa kiên trì luyện tập

III. Một số biện pháp rèn phát âm cho học sinh

1.     Hướng dẫn học sinh phát âm:

Hướng dẫn cách phát âm là phương pháp quan trọng hàng đầu, đòi hỏi người giáo viên phải có những hiểu biết, kinh nghiệm và cả kĩ năng hướng dẫn tốt. Khi hướng dẫn học sinh phát âm, cần dùng lời nói mạch lạc, đơn giản để học sinh dễ hiểu và có thể tự mình phát âm đúng. Đối với những âm, vần, tiếng dễ nhầm lẫn, giáo viên cần phải so sánh, phân tích cụ thể cách phát âm (môi – răng – lưỡi, đường dẫn hơi, điểm thoát hơi…). Một vài trường hợp cụ thể hay gặp:

* Sai lẫn một số phụ âm (thường gặp đối với học sinh người miền Bắc):

  - Khi học sinh sai lẫn âm l / n:

          + Âm l: lưỡi uốn cong, bật đầu lưỡi cho hơi thoát ra mạnh, dứt khoát.

          + Âm n: Lưỡi ép sát lợi trên, cho hơi thoát ra đường mũi, sau đó mở miệng cho hơi thoat ra trên mặt lưỡi, luồng hơi có thể kéo dài.

          + Với những học sinh vãn chưa phát âm được, giáo viên có thể yêu cầu các em dùng hai ngón tay, bóp mũi lại để đọc âm l (đối với âm n, khi bóp mũi lại sẽ không thể đọc được).

- Khi học sinh sai lẫn p / b:

          + Âm p: Môi mím chặt, sau đó bật môi mạnh cho hơi thoát ra dứt khoát ngay ở môi.

          + Âm b: môi mím nhẹ, sau đó mở to miệng cho hơi thoát ra từ trong cổ, hơi có thể kéo dài.

* Sai lẫn ở những âm đầu vần và cuối vần

- Vần ươm đọc thành ưm:

          + Vần ươm : môi mở hơi rộng, hàm dưới hơi đưa về trước và lượn cho hơi thoát ra từ cổ, sau đó mím môi.

          + Vần ưm: môi mở hẹp, cho hơi thoát ra từ mặt lưỡi, sau đó mím môi.

uôm đọc thànhum

          + Uôm: lượn tròn 2 môi, cho hơi thoát ra ở môi, sau đó mím môi.

          + um:  tròn hai môi như đọc u, hơi thoát ra ở môi, sau đó mím môi, 2 môi không lượn như uôm.

ac đoc thành at:

          + ac: mở miệng rộng, hơi thoát ra gần trong chân lưỡi.

          + at: môi mở hơi rộng, đưa lưỡi chạm vào lợi trên, hơi ra trên mặt lưỡi.

* Sai lẫn dấu thanh (gặp ở những học sinh có hệ thống bộ máy phát âm chưa hoàn chỉnh): 

- Những tiếng có thanh hỏi / thanh nặng: đi ngủ - đi ngụ, cử tạ - cự tạ, củ sả - cụ sạ…)

          + Tiếng có thanh hỏi: giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh phát âm trầm, hơi luyến giọng, lên cao, kéo dài hơi. Có thể kèm theo động tác ngửa cổ hướng mắt lên trên.

          +  Tiếng có thanh nặng: phát âm thấp giọng và nặng, dứt khoát (không  kéo dài). Khi phát âm có thể làm động tác gật đầu.

- Những tiếng có thanh sắc – thanh ngã (em bé ngã – em bé ngá, lọ mỡ - lọ mớ, ghé gỗ - ghế gố…)

          + Những tiếng có thanh ngã đọc nhấn mạnh, hơi kéo dài, luyến giọng, lên cao giọng.

          + Những tiếng có thanh sắc: Đọc nhẹ nhàng hơn tiếng có thanh ngã, hơi ngăn, đọc nhanh, không kéo dài.
Bằng cách hướng dẫn (như một vài ví dụ nêu trên) học sinh có thể dễ dàng phát âm và đạt hiệu quả cao.

2.     Giáo viên đọc mẫu:

Ở lứa tuổi học sinh tiểu học, các em luôn coi thầy, cô giáo của mình là thần tượng, là chuẩn mực. Đặc điểm tâm lí của học sinh ở lứa tuổi này là hay bắt chước, hay làm theo. Các em thích mình giống như thầy cô và  người lớn. Các em thường “bắt chước” cô từ cách ăn mặc, đi đứng, cho đến lời nói, cử chỉ, chữ viết …Học sinh lớp 1 hằng ngày đến lớp chủ yếu được nghe giọng của giáo viên. Vì vậy giáo viên cố gắng cho học sinh nghe đúng, nghe hay thì việc học sinh đọc sai, viết sai từng bước được khắc phục. Muốn học sinh phát âm tốt thì giáo viên phải phát âm chuẩn xác.

Tuy vậy, nếu sử dụng phương pháp làm mẫu không khéo léo, sẽ dẫn đến tình trạng “lạm dụng”, tiết học sẽ trở nên nhàm chán và không phát huy được tính tích cực, chủ động của học sinh. Vì thế, giáo viên chỉ nên sử dụng phương pháp này khi thấy thật cần thiết, đó là khi các em học sinh dù qua hướng dẫn, không thể tự mình phát âm đúng.

Khi vận dụng phương pháp đọc mẫu cho học sinh, giáo viên cần rèn luyện cho các em biết kết hợp cả kĩ năng nghe và nhìn (nghe tiếng phát âm và quan sát môi, miệng, lưỡi của cô). Như thế học sinh sẽ phát âm đúng và dễ dàng hơn. Người giáo viên khi đọc mẫu, không đơn giản chỉ là phát ra âm tiết mà cần biết phối hợp với thuật “hình môi” nhằm hướng dẫn các em phát âm chuẩn xác hơn. Học sinh nếu chỉ nghe mà không nhìn miệng cô đọc  thì việc phát âm sẽ không đạt hiệu quả cao.

3.                 Khuyến khích học sinh phát hiện và điều chỉnh lẫn nhau:

Hoạt động dạy – học luôn luôn được thực hiện trong mối quan hệ tương tác: giáo viên với học sinh, học sinh với giáo viên, học sinh với học sinh. Một tiết học diễn ra nếu thiếu sự tương tác giữa học sinh với học sinh thì tiết học sẽ trở nên đơn điệu, không phát huy được tích cực, chủ động của học sinh, đồng thời bầu không khí lớp học sẽ thiếu sự nhẹ nhàng, tự nhiên; người giáo viên cũng không thể hiện rõ được vai trò là người chỉ dẫn để giúp các em tự tìm tòi, lĩnh hội kiến thức. Như vậy sẽ không thực hiện được mục tiêu đổi mới phương pháp dạy – học hiện nay.

Trong quá trình rèn kĩ năng phát âm cho học sinh, giáo viên  luôn đặc biệt quan tâm đến mối quan hệ tương tác giữa học sinh với học sinh. Giáo viên cần chú trọng việc rèn cho các em có kĩ năng nghe – nhận xét – sửa sai giúp bạn và tự sửa sai cho mình. Các em sử dụng các kĩ năng ấy thường xuyên trong các tiết học trở thành một thói quen, tạo nề nếp học tập tốt.

Qua quá trình nghe để nhận xét, sửa sai giúp bạn, sẽ giúp học sinh tự điều chỉnh, sửa sai cho mình. Đồng thời còn rèn luyện cho các em tác phong mạnh dạn, tự tin trong góp ý, trao đổi, trình bày ý kiến, góp phần hình thành nhân cách. Thực hiện thường xuyên như thế sẽ tạo được bầu không khí học tập nhẹ nhàng, thân thiện, đảm bảo được mục tiêu của việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực.

4.                 Rèn luyện tính kiên trì cho học sinh:

Rèn cho học sinh có tính kiên trì là nhiệm vụ quan trọng. Bản thân người giáo viên cũng phải rất kiên trì để hình thành tính cách ấy cho học sinh. Khi có được lòng kiên trì, học sinh sẽ vượt qua những khó khăn để đạt tới cái đích cao nhất. Trong dạy phát âm cho học sinh, khi các em phát âm chưa đúng, phải điều chỉnh nhiều lần mà vẫn chưa đạt yêu cầu, các em sẽ dễ chán nản, không muốn luyện tập. Khi ấy, giáo viên cần kiên trì hướng dẫn, làm mẫu, yêu cầu học sinh phát âm nhiều lần, thường xuyên động viên khích lệ học sinh bằng những lời khen “Em đã đọc tốt hơn rồi, em cố gắng thêm tí nữa”, “em cố gắng đọc được giống bạn”,“em đã đọc được rồi đó, em cố gắng lên nhé” …được động viên như vậy, học sinh sẽ không nản lòng vì nghĩ rằng mình sẽ làm được, sắp làm được, bạn làm được thì mình cũng sẽ làm được…từ đó học sinh sẽ quyêt tâm hơn.

Trong số những học sinh phát âm sai, có một phần nhỏ học sinh do lười biếng, không muốn rèn luyện mình nên chỉ phát âm một cách nhanh chóng, đại khái cho xong, dần dần thành quen nên phát âm không chuẩn xác. Với những đối tượng này, giáo viên phải thật nghiêm khắc, khen – chê đúng mực để các em thấy rằng mình có khả năng học tập rất tốt, mình cần  phải thể hiện hết khả năng của mình.

5.                 Quan tâm rèn luyện cho học sinh ở mọi nơi, mọi lúc.

Để giúp học sinh phát âm chuẩn, giáo viên không chỉ hướng dẫn, sửa sai cho các em trong giờ học môn học vần mà cần luôn theo dõi, uốn nắn cho các em cả trong các tiết học khác, trong giờ chơi, trong hoạt động tập thể… Bởi vì những lúc vui chơi là lúc các em sử dụng lời nói một cách tự nhiên nhất. Người giáo viên cần chú ý quan sát để phát hiện những lỗi phát âm của các em và kịp thời sửa chữa, đồng thời tạo cho học sinh thói quen phát âm chuẩn dù ở bất cứ nơi nào.

6.                 Kết hợp với phụ huynh rèn luyện phát âm cho học sinh:

Giáo viên có thể cùng bàn bạc và thảo luận với phụ huynh nêu ra cách đọc một số chữ khó để phụ huynh nắm bắt được, từ đó tạo điều kiện rèn luyện phát âm cho các em khi ở nhà. Với một số em cá biệt về phát âm, giáo viên có thể gặp trực tiếp phụ huynh trao đổi và động viên họ nên chọn mua những quyển truyện tranh trong đó có lời đối thoại nhiều phụ âm mà học sinh hay nhầm lẫn và dành thời gian đọc, kể cho các em nghe, dạy em kể lại chuyện. Ngoài ra cần nhắc nhở phụ huynh thường xuyên chú ý tới lời nói, cách phát âm của mọi người trong gia đình, giải thích cho phụ huynh hiểu chính lời nói của người thân trong gia đình là môi trường giáo dục cho các em khi ở nhà. Như vậy việc phối hợp giữa gia đình và nhà trường đều tạo môi trường phát âm chuẩn mực giúp các em ngấm dần một cách tự nhiên khi đọc phát âm đúng.

          Một số trường hợp, học sinh phát âm sai không phải do hệ thống phát âm của các em chưa hoàn chỉnh, cũng không phải do các em chưa hiểu cách phát âm mà là do thói quen sử dụng từ ngữ địa phương (rượu - riệu, bẩn – bửn, gãy – gẫy). Đối với những trường hợp này, trong mỗi bài dạy, khi có từ ngữ hoặc chủ đề liên quan, giáo viên cần quan tâm tới các em thường nói sai, giải thích cho các em hiểu đúng nghĩa của từ cũng như cách dùng từ đúng, từ đó giúp các em tránh phát âm sai theo cách nói của địa phương. Ngoài ra, người giáo viên hoàn toàn có thể thông qua họp phụ huynh học sinh, qua phiếu phối hợp giáo dục giữa giáo viên và gia đình để hướng cho phụ huynh học sinh có cách dùng từ đúng để sửa đổi và giúp các em phát âm và sử dụng từ ngữ chuẩn xác hơn.

B.   Lỗi chính tả

I.      Lỗi viết sai chữ

1. Thực trạng
a. Về âm đầu:
- Học sinh viết lẫn lộn một số chữ cái ghi các âm đầu sau đây:
+ c/k: Céo cờ…
+ g/gh: Con gẹ, gê sợ…
+ ng/ngh: Ngỉ ngơi, nge nhạc…
+ ch/tr: Cây che, chiến chanh…
+ s/x: Cây xả , xa mạc…
+ v/d/gi: Giao động, giải lụa , giòng giống , dui dẻ…
- Trong các lỗi này, lỗi về ch/tr, s/x, v/d/gi là phổ biến hơn cả
b. Về âm chính:
- Học sinh hay mắc lỗi khi viết chữ ghi các âm chính trong các vần sau đây:
+ ai/ay/ây: Bàn tai, đi cầy, dậy học…
+ ao/au/âu: Hôm sao, mầu đỏ…
+ iu/êu/iêu: chìu chuộng, lim khiết, cây niu…
+ oi/ôi/ơi: nôi gương, xoi nếp…
+ ăm/âm: con tầm, sưu tằm, bụi bậm…
+ im/iêm/êm/em: tim thuốc, lúa chim, cái kềm…
+ ăp/âp: gập gỡ, trùng lấp…
+ ip/iêp/êp/ep: số kíp, liên típ, thệp cưới…

Ghi chú: Tài liệu này được thành viên justdoit1412 đăng lên thư viện. Theo quy định điều khoản sử dụng, Thuvien24.com không chịu bất kỳ trách nhiệm nào đối với bản quyền tài liệu. Bạn tự cân nhắc trước khi tải tài liệu.
Xem bình luận
lamthikimxuyen
ok. cam on ban nha.
Tôi biết đến website qua một người bạn. Đây quả là 1 website tuyệt vời cho những ai muốn nâng hoàn thành tốt bài tập của mình.
phuc122133
Rất rất cám ơn
vantribinhdinh
Toi xin cam on su ho tro nhiet tinh cua thuvien24!
cuongsaohb
Cám ơn bạn bài viết hay và có chất lượng. Phát huy bạn nhé. Cám ơn
  • Tài liệu mới
  • Tài liệu nổi bật
  • Tài liệu liên quan
  • Tài liệu cùng người đăng
Luận văn : Bảo Mật Mạng Máy Tính và Tường Lửa

Luận văn : Bảo Mật Mạng Máy Tính và Tường Lửa

Lượt down: 0

Người đăng: mupoanh